Thursday, July 23, 2009

"Hoa thơm, cỏ lạ" (1)


1. Việt Nam: - Hoa đào (miền Bắc VN) hay hoa Anh đào: loại cây có hoa với màu từ trng tới hồng thuộc chi Mận mơ (Prunus). Quả có thể ăn được. Một loài cây (Prunus serrulata) có hoa đẹp, được coi là biểu tượng của Nhật Bản. Loài đáng chú ý ở miền bắc Việt Nam, nở hoa vào dịp Tết là Prunus persica. Chúng đồng thời cũng là loại cây (tùy theo giống được trồng) cho quả ăn có vỏ với màu từ vàng tới đỏ tía. Tục truyền trái đào hái ở vườn của Tây Vương Mẫu ăn vào một miếng sẽ trường thọ đến 100 năm. Trên TG có nhiều loại prunus khác nhau (xem:http://en.wikipedia.org/wiki/Prunus).

Tên khoa học:

Kingdom:
Plantae

Division:
Magnoliophyta

Class:
Magnoliopsida

Order:
Rosales

Family:
Rosaceae

Subfamily:
Prunoideae

Gnus:
Prunus






Tên thông dụng:đào (plums, cherries, peaches, apricots hay almonds).

Hoa Đào (Prunus persica Batsch) ở Việt Nam thuộc họ hoa hồng (Rosaceae), tên Pháp: Pêcher, tên gọi theo các dân tộc là May phăng (Tày), Kén má cai hoặc Co tàu (Thái), Phiếu kiào (Dao)... có nguồn gốc Ba Tư, Trung Quốc, Nhật Bản sau đó được trồng ở nhiều nơi. Ở Việt Nam, hoa Đào được trồng nhiều ở vùng Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang. Đào được trồng lấy quả để ăn: hạt, lá, hoa dùng làm thuốc và hoa để trang trí. Đào là loại trung mộc (medium), cao 3 - 8m, da thân nhẵn, trên thân thường có chất nhầy gọi là nhựa đào. Lá đơn mọc cách, cuống ngắn, phiến lá lúc non xếp 2, nhọn hai đầu, kích thước 5-8cm x 1,2-1,5cm, có tuyến to ở đáy và ngọn cuống, mép lá có răng cưa, khi vò có mùi hạnh nhân. Lá bẹ như kim, có tuyến, mau rụng. Hoa xuất hiện trước lá, màu hường, chụm, không cọng, lá đài cao 6mm, hoa 5 cánh, cánh 2 cm, tiểu nhụy nhiều, màu vàng. Quả nhân cứng có lông mịn: nhân dẹp, có u nần dài. Có thứ hoa đôi, trồng nhiều ở vùng núi và đồng bằng phía Bắc, hoa nở tháng 1 -2, hạt thu hái vào tháng 6 -7 , lấy quả về đập lấy hạt, phơi hoặc sấy khô gọi là đào nhân.

Công dụng của đào nhân, theo GS Đỗ Tất Lợi (1986), Đào nhân chữa ho như nhân hạt Mơ, làm thuốc điều kinh sau khi đẻ. Các nhà nghiên cứu ở Đài Loan cho rằng: Đào nhân được dùng thay chất ergotin làm co tử cung, tác dụng trên mạch máu của tử cung làm đông máu. Lá Đào tươi nấu nước tắm hoặc giã nát đắp trị ghẻ ngứa, lở loét. Hoa Đào chữa bí tiểu tiện, táo bón, làm thuốc bảo vệ dung nhan trong khoa mỹ dung Đông y - phụ nữ có thai không nên dùng, lá đào độc nên dùng thận trọng (lương y Đinh Công Bảy)

Hoa đào Nhật Tân nổi tiếng xứ Hà Thành từ xưa đến nay với những búp hoa màu hồng thắm, được tỏa đi mọi miền đất nước báo hiệu xuân về. Mùa xuân Kỷ Dậu, sau khi đánh tan quân Thanh, tiến vào đất Thăng Long, Quang Trung - một vị vua kiêu hùng và lãng mạn, đã cho người mang cành đào vào Phú Xuân báo tin chiến thắng cho Ngọc Hân Công Chúa (vốn là người sành Đào đất Thăng Long nhìn sắc hoathể biết xuất xứ).

Đào có thể phân biệt: Đào bích có màu đỏ thẫm nhiều cánh xếp khít nhau, lá có màu lục đậm, nhiều cành, nhiều hoa. Đào phai, hoa có màu hường, lá có màu xanh nhạt hơn so với đào bích, cây có nhiều hoa. Đào bạch, hoa màu trắng, ít hoa. Giống Prunus ở Việt Nam có 18 loài có thể sử dụng trồng bonsai một số loài sau:

Tên thông dụng: Anh Đào - Tên khoa học: P.cerasoides, phân bố ở độ cao 1000-1.800 m từ Cao Lạng đến Hà Nam Ninh.

n thông dụng: Anh Đào Đôi-Tên khoa học: P.cerasus(Sour cherry), là loài tiểu mộc, cho hoa màu hồng, trồng ở Huế, hoa tháng 11 đến tháng 3. Tên thông dụng: Mận-Tên khoa học: P.salicina, hoa trắng được trồng ở Đà Lạt. Ở miền Bắc xuất hiện từ đồng bằng đến núi cao, từ Lạng Sơn đến Vinh.

Tên khoa học: P.fordiana - Tên thông dụng: Đào lùn (?), loài tiểu mộc, hoa trắng, phân bố ở rừng còi duyên hải từ Quảng Yên đến Thừa Thiên.
Tên khoa học: P. armeniaca L- Tên thông dụng:(Apricot) , nổi tiếng vùng Hương ch, trồng lấy quả, loại tiểu mộc 3-6cm, hoa màu hường hay trắng..

Hầu hết những loài thuộc giống Prunus dễ dàng gây trồng, có thể nhân giống bằng ghép, chiết cành hoặc gieo hạt. Sau khi ra hoa, có thể cắt tỉa bớt những phần lá ở đầu cành. Để cây cho nhiu hoa to, đẹp, màu rực rỡ, phân lân được sử dụng trong suốt sáu tháng cuối năm. Nếu thấy chậm ra hoa nên bón thúc bằng đạm; có hiện tượng ra hoa sớm thì nên hạn chế bớt ánh sáng, che tối cả ngày, không tưới, không xới xáo. Việc chọn đào của người Hà Nội cũng rất cầu kỳ, kỹ thuật chăm sóc rất cẩn thận, tỉ mỉ sao cho cành đào ra hoa đúng dịp Tết, trên cành có Đào nụ và hoa rực đỏ tươi thắm mang đến sự may mắn, vui tươi và hạnh phúc trong năm mới theo phong tục cổ truyền dân tộc ngày xuân. Hoa Anh Đào nhiều cánh nhiều tầng/ lớp màu hồng phn là loại được nhiều người Hà Nội ưa chuộng nhất. Người tại một số khu vực ở miền trung Việt Nam gọi loài cây Syzygium malaccense (chi Trâm) là đào. Nó là cây điều đỏ theo cách gọi của người miền bắc và miền nam Việt Nam. Đào (điều) lộn hột: li thực vật có danh pháp khoa học Anacardium occidentale. Tên gọi khác là điều. Bồ đào: một loại cây ăn trái. Các tác giả Thiều Chửu cho rằng đây là trái nho (chi Vitis).Hồ đào tức cây óc chó với tên khoa hc Juglansia, thuộc bộ Dẻ gai.Hạch đào: Tên gọi chung cho nhiều loài thuộc chi Juglans, thuộc bộ Dẻ gai.



Đ
ây là hình hoa đào nhà tôi.

















Ng
ày hi Hoa Anh Đào Nhật Bản:










Ng
ày hi Hoa Anh Đào Washington DC (at the Tidal Basin):










- Hoa
Mai (miền Nam)









Bên cạnh hoa đào miền Bắc thoa mai là một loài hoa không th thiếu đối với đa số người Việt vào dịp tết cổ truyền, nhất là đối với người ở miền Nam và miền Trung Việt Nam. Hoa Mai thuộc chi Ochna của họ Mai (Ochnaceae). Cây mai vàng ở miền nam Việt Nam thuộc chi này với danh pháp Ochna integerrima.
Tên thông
dụng: Hoa Mai (Apricot blossom/ Mickeymouse plant)
































Tên thông dụng: Hoa Mai trng (bch mai)/ Evergreen Pear;
Tên khoa học: Pyrus Kawakamii

















- Tên thông
dụng: Hoa mắc cỡ (Shy/ shame plant, Sensitive/ Sleepin g grass), nguyên thuỷ: Brazil
n khoa học: Mimosa pudica, Họ: Đậu Fabeceae = Legumminosae; họ phụ: Trinh nữ/ Mimosoideae




- Tên thông dụng: Hoa mười giờ hay rau sam hoa lớn.
n khoa học:Portulaca grandiflora, là một loài cây thân mọng nước, nhỏ, nhiều nhánh và lớn nhanh trong họ Rau sam (Portulacaceae). Tên gọi mười giờ là do hoa của nó thường chỉ nở từ khoảng 8/9 giờ đến 10 giờ sáng trong ngày. Là loại cây thân thảo, cao khoảng 10-15 cm. Lá hình dải hơi dẹt, dài 1,5-2 cm, mép nguyên, thân có màu hồng nhạt, lá có màu xanh nhạt.Loài thực vật này có nguồn gốc Nam Mỹ, nhưng được trồng rộng rãi trong các khu vực ôn đới cũng như trong vai trò của cây trồng một năm theo luống trong vườn. Hoa sặc sỡ, với màu sắc có thể là đỏ, cam, hồng, trắng hay vàng. Theo tạp chí Birds & Blooms, tháng 6 năm 2006 thì "nó được đưa vào các khu vườn của châu Âu khoảng 300 năm trước...nhanh chóng thu được sự phổ biến vì các tính chất y học của nó, bao gồm làm mất đi tiếng nghiến răng, co thắt cơ và làm dịu vết bỏng do thuốc súng". Loài cây thích hợp với chỗ đất ráo nước và nhiều nắng.Tại Việt Nam, nó được trồng làm một loại cây cảnh. Trong Đông y, người ta cũng dùng nó trong điều trị một số bệnh như viêm họng, eczema, ghẻ, mụn nhọt v.v... Cây này có tên "hoa mười giờ" có lẽ vì hoa chỉ nở khi nắng cao lúc đứng bóng khoảng "mười giờ" rồi lại khép lại vào buổi chiều.

- Tên thông dụng: Hoa Lài/ Nhài
Tên khoa học:Jasminum Sambac, nguyên thu: India, Philippines, Indonesia, Myanmar & Sri Lanka... Hoa nhài là hoa biu tượng quốc gia (national flower) ca Philippines & Indonesia.Hoa nhài còn có tên gọi khác như cây hoa lài, là cây thân gỗ thường mọc thành bụi, lá bóng cả hai mặt, phiến lá hình bầu dục hơi trái xoan, mọc đối. Hoa trắng, mọc thành cụm ở nách lá hay ngọn cây. Ở nước ta, cây nhài được đánh giá là loại cây trồng có giá trị kinh tế cao. Hoa nhài là nguyên liệu chủ yếu dùng trong công nghệ ướp hương chế biến chè/ trà. Tuy nhiên, do thời gian thu hoạch của hoa nhài và cây chè trái ngược nhau nên việc sử dụng hoa nhài cho công nghệ ướp chè đã gặp phải những khó khăn nhất định. Để khắc phục những khó khăn về thời vụ và nâng cao hiệu quả của cây nhài ở nước ta, các nhà nghiên cứu đã đưa ra giải pháp kỹ thuật về công nghệ và thiết bị công nghiệp để chiết xuất tinh dầu hoa nhài phục vụ cho kỹ nghệ ướp chè. Giải pháp này nhằm kích thích người dân phát triển trồng nhài đại trà ở nước ta, đồng thời góp phần phát triển ngành sản xuất tinh dầu nói chung và tinh dầu hoa nhài nói riêng.












-Tên thông dụng: hoa Cúc(Chrysanthemum) bao gồm: Argyranthemum, Leucanthemopsis, Leucanthemum, Rhodanthemum, hay Tanacetum.

Tên khoa học: Asteraceae hay Compositae.Tên gọi khoa học của họ này có từ chi Aster (cúc tây) và có từ nguyên từ gốc tiếng Hy Lạp mang nghĩa ngôi sao - hình dáng của bông hoa trong các loài của nó, được điển hình hóa thành tên gọi phổ biến chung là hoa cúc. Họ Asteraceae là họ lớn thứ hai trong ngành Magnoliophyta, với khoảng 900-1.100 chi và từ 13.000 -20.000 loài đã được công nhận. Chỉ có họ Lan (Orchidaceae) là lớn hơn, với khoảng 25.000 loài đã được miêu tả.

Giới (Kingdom): Plantae, Ngành (Division): M

agnoliophyta, Lớp (Class): Magnoliopsida, Bộ (Ordo): Asterales, Họ (Familia): Asteraceae.

Khoảng 900-1.100 chi 13.000-20.000 loài. Phân họ Barnadesioideae,Phân họ Cichorioideae.

Các loài thuộc về họ Cúc phải chia sẻ mi đặc trưng đó(Judd và những tác giả khác, 1999).Không có đặc điểm nào trong số này, được trích ra riêng rẽ, có thể coi là được chia sẻ bởi hai hay nhiều nhóm thuộc cùng nhánh (synapomorphy).Cụm hoa: Cụm hoa dạng đầu. Bao phấn hữu t ính, tức là với các nhị hoa kết hợp lại với nhau tại các gờ của chúng bởi các bao phấn, tạo thành ống. Bầu nhụy với sự phân bổ cơ bản của các noãn hoa. Các noãn hoa trên một bầu nhụy. Mào lông (chùm lông trên quả). Quả là loại quả bế (tạo thành từ một lá noãn và không nẻ ra khi chín).Các sesquiterpen có mặ t trong ti nh dầu, nhưng không có các iriđôit.

* Cúc vàng(Chrysanthemum japonicum)
* Cúc trắng (
Chrysanthemum sinense Sabine)

* Cúc đại đoá (Oogiku)

* Cúc vạn thọ(Tagetes)

* Cúc vạn thọ tây (Cosmos)

* Cúc tím/thạch thảo (Tên khoa học: Calluna vulgaris; tên Anh:Heather; Pháp: Bruyère, trong thơ Guillaume

Appolinaire đã được Bùi Giáng và Phạm Duy dịch là hoa thạch thảo.)

* Cúc Zinnia

* Cúc Chrysanthemum coronarium










































Tên thông dụng: hoa Hồng (roses). Tên khoa học:Bộ Hoa hồng (Rosales) là một bộ thực vật có hoa, bao gồm chín họ với họ điển hình là họ Hoa hồng (Rosaceae). Chín họ này là những họ được coi là có quan hệ họ hàng với nhau theo các phân tích di truyền học của Angiosperm Phylogeny Group. Việc phân tích này cũng chỉ ra rằng bộ trong hệ thống Cronquist cũ là Bộ Gai (Urticales) nằm trong bộ Rosales.Vài loại hoa Hồng:Hồng nhung, đỏ,bạch, tỉ muội...Có khoảng 20.000 loài hoa hồng khác nhau(xem:http://wiki.answers.com/Q/How_many_differnt_kinds_of_roses_are_there; hay: http://www.valleyk.com/articles/roses/roses2_p1.html,http://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%99_Hoa_h%E1%BB%93ng; http://www.avsnonline.net/gallary.php?album=8)









- Tên thông dụng: hoa
Lan, hay Phong lan, (tên khoa học: Orchidaceae); là một họ thực vật có hoa, thuộc bộ Măng tây, lớp thực vật một lá mầm. Họ Orchideceae là một trong những họ lớn nhất của thực vật mọc trên toàn thế giới, ngoại trừ châu Nam Cực; có cây hoa lan sống dưới mặt đất và chỉ nở hoa trên mặt đất cũng như có cây hoa lan sống tại vùng cao nguyên của dãy Himalaya; hoa lan có thể tìm thấy tại các vùng có khí hậu nhiệt đới như trong rừng già của Brasil đến các vùng có tuyết phủ trong mùa đông như tại bình
nguyên của Manitoba, Canada; hoa lan có loại mọc trong đất (terrestrial), có loại mọc trên cây cao (epiphyte) và có loại mọc trên đá(lithophyte).
Các loại hoa lan thực thụ thuộc họ Orchidaceae (bao gồm cả phong lan, địa lan và thạch lan)

Một số loài lan ở Việt Nam

Theo cuốn Phong Lan Việt Nam của Trần Hợp thì Việt Nam có đến 750 chi gồm 25.000 loai lan rừng. Hiện tại ngoài hoa lan mọc hoang dã, lan còn được gây trồng đại trà tại một số nơi, nhiều nhất là ở Tây Nguyên trong đó Đà Lạt là một trong những nơi hoa lan được trồng rộng rãi nhất.
  1. Lan tiểu hoàng đỏ
  2. Lan thạch hộc gia lu
  3. Lan thanh đạm
  4. Lan sứa ba răng
  5. Lan sớn
  6. Lan phích việt nam
  7. Lan nhục sơn trà
  8. Lan ngọc kiện khê
  9. Lan mật khẩu giả
  10. Lan mật khẩu bì đúp
  11. Lan len nỉ
  12. Lan lá nhẵn petelot
  13. Lan kim tuyến sapa
  14. Lan kim tuyến
  15. Lan huyết nhung trung
  16. Lan hoàng thảo trinh bạch
  17. Lan hoàng thảo thơm
  18. Lan hoàng thảo tam đảo
  19. Lan hoàng thảo sừng dài
  20. Lan hoàng thảo đốm tía
  21. Lan hoàng thảo đốm đỏ
  22. Lan hành hiệp
  23. Lan dáng hương quế
  24. Lan chiểu tixier
  25. Lan bạch manh
  26. Lan bắp ngô ráp
  27. Dực giác lá hình máng
  28. Cầu điệp tixier
  29. Cầu điệp evrard
  30. Đơn hành hai màu
  31. Lan hoàng thảo vạch đỏ
  32. Lan hành averyanov
  33. Lan hài lông
  34. Lan hài hồng
  35. Lan hài đài cuộn
  36. Lan dáng hương hồng
  37. Lan ý thảo
  38. giacac incactida
Muốn biết thêm về hoa lan Việt Nam, xin vao http://hoalanvietnam.org/
hay: http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8D_Phong_lan#M.E1.BB.99t_s.E1.BB.91_lo.C3.A0i_lan_.E1.BB.9F_Vi.E1.BB.87t_Nam)



- Tên thông dụng: hoa
Sen hồng (các tên gọi khác sen đỏ, sen Ấn Độ).
Tên khoa học:Nelumbo nucifera(đôi khi còn được gọi theo các tên cũ như Nelumbium speciosum (hoang dại) hay Nymphaea nelumbo. Đây là một loại cây thủy sinh sống lâu năm. Hoa sen là một thứ hoa được đời yêu quí, nhất là trong giới Phật tửTrong thời kỳ cổ đại nó đã từng là loại cây mọc phổ biến dọc theo bờ sông NileAi Cập cùng với một loài hoa súng có quan hệ họ hàng gần gũi có tên gọi dài dòng là hoa sen xanh linh thiêng sông Nile (Nymphaea caerulea); và hoa, quả cũng như các đài hoa của cả hai đã được họa lại khá rộng rãi như là một kiểu kiến trúc ở những nơi cần các hình ảnh linh thiêng. Người Ai Cập cổ đại sùng kính hoa sen và sử dụng nó trong các nghi thức tế lễ. Từ Ai Cập nó đã được đem đến Assyria và sau đó được trồng rộng rãi khắp các vùng Ba Tư, Ấn ĐộTrung Quốc. Nó cũng có thể là loài cây bản địa ở khu vực Đông Dương, nhưng ở đây có sự nghi vấn về điều này. Năm 1787, lần đầu tiên nó được đưa tới Tây Âu như một loài hoa súng dưới sự bảo trợ của Joseph Banks và có thể thấy được trong các vườn thực vật hiện nay mà ở đó có sự cung cấp nhiệt. Ngày nay nó là hiếm hoặc đã tuyệt chủng tại châu Phi nhưng lại phát triển mạnh ở miền nam châu ÁAustralia. Nó là quốc hoa của Ấn Độ. Thân rễ của sen hồng mọc trong các lớp bùn trong ao hay sông, hồ còn các lá thì nổi ngay trên mặt nước. Các thân già có nhiều gai nhỏ. Hoa thường mọc trên các thân to và nhô cao vài xentimet phía trên mặt nước. Thông thường sen có thể cao tới 1,5 m và có thể phát triển các thân rễ bò theo chiều ngang tới 3 m, một vài nguồn chưa kiểm chứng được cho biết nó có thể cao tới trên 5 m. Lá to với đường kính tới 60 cm, trong khi các bông hoa to nhất có thể có đường kính tới 20 cm.Có nhiều giống sen được trồng, với màu hoa dao động từ màu trắng như tuyết tới màu vàng hay hồng nhạt. Nó có thể chịu được rét tới khu vực 5 theo phân loại của USDA. Loài cây này có thể trồng bằng hạt hay thân rễ.
-Tên thông dụng: Hoa Súng
Tên khoa học:Nymphaeaceae
Hoa súng trắng là quốc hoa của Bangladesh. Đối với một số nền văn hóa phương Tây thì nó là loài hoa biểu tượng của những người sinh vào tháng 7. Các loài súng sinh sống ở các khu vực ao, hồ và đầm lầy, với lá và hoa nổi lên trên mặt nước. Lá súng hình tròn, các chi NymphaeaNuphar có lá bị khía chữ V nối từ mép lá tới phần cuống lá, nhưng chi Victoria lại có lá hoàn toàn tròn và không bị khía. Lá đơn, mọc cách. Hoa xếp xoắn vòng: lá đài 4 - 12 (thường 5 - 6) đôi khi có màu và lớn hơn cánh hoa như ở chi Nuphar. Cánh hoa nhiều, xếp lợp (ở chi Nuphar cánh hoa rất nhỏ và có dạng vảy). Nhị nhiều, xếp xoắn. Bộ nhụy gồm 5 - 35 lá noãn, hợp nguyên lá noãn với bầu thượng, trung hoặc hạ. Tổng cộng 4-6 chi và khoảng 60-80 loài (tùy theo hệ thống phân loại), phân bố rộng khắp thế giới. Ở Việt Nam có 2 chi là Nymphaea và Victoria với khoảng 5 loài. Theo phân loại của nghề làm vườn thì các loài súng bao gồm 2 thể loại chính là: súng chịu rét và súng nhiệt đới. Các loài súng chịu rét chỉ nở hoa vào ban ngày còn các loài súng nhiệt đới có thể nở hoa vào ban ngày hoặc ban đêm cũng như là nhóm duy nhất có chứa các loài súng với hoa có màu xanh lam. Khả năng tồn tại của hạt súng theo thời gian là rất dài, vào khoảng 2000 năm. Hoa súng có thể có mùi thơm (chẳng hạn loài súng thơm Nymphaea odorata). Hiện nay tồn tại khoảng vài trăm giống hoa súng khác nhau.Họa sĩ người Pháp Claude Monet đã có một loạt các tranh vẽ về cây và hoa súng.
-Tên thông dụng: Hoa thiên lý
Tên khoa học:
Telosma cordata






-Tên thông dụng:Lỗ bình (Lobellia)
Tên khoa học: Lobelia erinus - họ Campanulaceae/ Hoa Chuông).









- Tên thông dụng:
hoa Lưu Ly(tên tiếng Anh : Forget-me-not / Xin đừng quên tôi)
Tên khoa học: Myosotis, họ Boraginaceae
- Tên thông dụng: Hoa Pensée/ Pansy (Hoa tương tư - Tử la lan):
Tên khoa học: Viola tricolor hortensis/ Viola × wittrockiana








- Tên thông dụng: hoa Hướng Dương (Sunflower)
Tên khoa học:Helianthus annuus, thuộc họ Asteraceae với bông hoa lớn (inflorescence). Thân cây hướng dương có thể cao tới 3 mét, với đường kính bông hoa là 30cm. Hoa hướng dương là loài hoa biểu tượng của Kansas và là một trong các loài hoa biểu tượng của thành phố Kitakyushu, Nhật. Hướng dương là loài cây có từ châu Mỹ, và đã được con người nuôi trồng vào khoảng năm 1000 TCN. Francisco Pizarro đã phát hiện những người dân Inca có sự sùng bái hoa hướng dương giống như hình ảnh thần Mặt Trời của họ, và những hình ảnh màu vàng kim của bông hoa cũng giống như những hạt giống đã được mang về châu Âu từ trước thế kỷ 16. Từ Helianthus để chỉ hoa hướng dương có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp. Hướng dương cũng được sử dụng để nói về tất cả các loài thực vật thuộc chi Helianthus, rất nhiều trong số đó là thực vật sống lâu năm. Để phát triển tốt, hoa hướng dương cần đầy đủ ánh mặt trời. Chúng phát triển tốt nhất ở nơi đất phì nhiêu, ẩm ướt. Hạt giống nên trồng cách nhau 45 cm (1,5 ft) và gieo hạt sâu 2,5 cm (1 inch). Hạt hướng dương (sunflower seed) được bán như những loại thức ăn nhanh, đặc biệt là tại Trung Quốc, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, châu Âu, và làm thức ăn cho chim. Những hạt đó cũng được sử dụng để nấu ăn và làm sa lát. Dầu hướng dương, được chiết xuất từ hạt hướng dương, được sử dụng làm dầu ăn (nhưng nó không tốt cho tim mạch như dầu ô liu) và thường được chế biến thành diesel sinh học, chi phí sản xuất dầu hướng dương rẻ hơn dầu ô liu. Phần còn lại của hạt đã được chế biến thành dầu có thể làm thức ăn cho vật nuôi, gia súc. Một số giống gần đây đã được tạo ra với cụm hoa đầu rủ xuống. Các giống đó ít hấp dẫn những người trồng hướng dương làm cây cảnh, nhưng hấp dẫn những người nông dân, bởi vì chúng làm giảm bớt sự phá hại của các loài chim và thiệt hại từ các loại bệnh đối với cây trồng. Hiện nay cũng có những giống hướng dương mới là dạng chuyển đổi gen, vì vậy chúng có sức kháng cự đối với các loại bệnh. Từ cây hướng dương còn sản xuất ra nhựa mủ (latex) và nó là loài cây của các thử nghiệm để cải thiện sự thích hợp của chúng trong vai trò của loại cây thay thế trong sản xuất cao su ít dị ứng.Hoa hướng dương thể hiện niềm tin và hy vọng trong tình yêu. Các báo cáo trong các tài liệu khoa học năm 1567 cho thấy một cây hướng dương cao 12m (40 ft), là cây truyền thống, cụm hoa đầu đơn, mọc tại Padua, Italia. Một cây hướng dương khác cao tới 8 m (24 ft) ở thời gian và địa điểm khác (tại Madrid). Rất nhiều cây mọc cách đây không lâu (20 năm trước) đã đạt được tới trên 8 m (25 ft) tại cả Hà Lan và Canada (Ontario). Cây cúc vu có quan hệ họ hàng với cây hướng dương. Cây hướng dương MexicoTithonia rotundifolia.
- Tên thông dụng: hoa Dã Quỳ, cúc quỳ, sơn quỳ, quỳ dại, hướng dương dại, hướng dương Mexico, cúc Nitobe (hướng dương dại)
Tên khoa học:Tithonia diversifolia
Bút hiu ca tôi là Hướng Dương vì hoa hướng dương được chon làm hoa tiêu biểu cho trường Lê Quí Đôn(Saigon) của tôi.
Tên thông dụng: hoa Trà Mi hay Trà hoa n.
Tên khoa học:Camellia, gồm khoảng 100–250 loài (APG II cho là 120) trong họ Chè (Theaceae), có nguồn gốc ở khu vực miền đông và miền nam châu Á, từ dãy Himalaya về phía đông tới Nhật BảnIndonesia. Chi này được Linnaeus đặt theo tên của Fr. Georg Joseph Kamel S.J., một nhà thực vật học và là một thầy tu dòng Tên. Vài loài camellia nổi tiếng & quen thuộc:









Tên thông dụng: hoa Tigôn (Bleedinghearts)
Tên khoa học: Dicentra uniflora
Hoa Tigon nổi tiếng qua bài thơ "Hai sắc hoa tigon" của T.T.KH:

Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc,
Tôi chờ người đến với yêu đương
Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
Dải đường xa vút bóng chiều phong
Và phương trời thẳm mờ sương, cát,
Tay vít dây hoa trắng cạnh lòng.
Người ấy thường hay vuốt tóc tôi
Thở dài những lúc thấy tôi vui
Bảo rằng: "Hoa, dáng như tim vỡ,
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!"
Thuở đó, nào tôi đã biết gì
Cánh hoa tan tác của sinh ly
Cho nên cười đáp: "Màu hoa trắng
Là chút lòng trong chẳng biến suy"
Đâu biết lần đi một lỡ làng,
Dưới trời đau khổ, chết yêu đương.
Người xa xǎm quá! Tôi buồn lắm,
Trong một ngày vui pháo nhuộm đường...
Từ đấy thu rồi, thu, lại thu,
Lòng tôi còn giá đến bao giờ?
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ...
Người ấy, cho nên vẫn hững hờ.
Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn dấu trong tim bóng "một người"
Buồn quá! Hôm nay xem tiểu thuyết
Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa
Sắc hồng tựa trái tim tan vỡ
Và đỏ như màu máu thắm pha!
Tôi nhớ lời người đã bảo tôi
Một mùa thu trước rất xa xôi...
Đến nay tôi hiểu thì tôi đã,
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi!
Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ,
Chiều thu, hoa đỏ rụng. Chiều thu
Gió về lạnh lẽo chân mây vắng,
Người ấy sang sông đứng ngóng đò.
Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng
Trời ơi! Người ấy có buồn không?
Có thầm nghĩ tới loài hoa... vỡ?
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng?
Tên thông dụng:hoa Thược Dược ( Dahlia)
Tên khoa học:Dahlia
Dahlia, một chi cây lâu năm thân củ rậm rạp, nở hoa về mùa hè và mùa thu, có nguồn gốc ở Mexico và tại đây chúng là quốc hoa. Năm 1872 một hộp cây thược dược non đã được gửi từ Mexico tới Hà Lan. Chỉ có một cây sống sót sau chuyến đi, nhưng nó đã tạo ra các bông hoa đỏ ngoạn mục với các cánh hoa nhọn. Các vườn ươm đã nhân giống loài cây này, khi đó được đặt tên khoa học là Dahlia juarezii với các loài thược dược được phát hiện sớm hơn và những giống này là tổ tiên của tất cả các loại thược dược lai ngày nay. Kể từ đó, các nhà nhân giống thực vật đã tích cực trong việc nhân giống thược dược để tạo ra hàng trăm giống mới, thông thường được chọn vì các bông hoa có màu sắc lộng lẫy của chúng.

Các loài thược dược bị ấu trùng của một số loài cánh vẩy (Lepidoptera) phá hại, bao gồm Phlogophora meticulosa, Korscheltellus lupulina, Hepialus humuli, Noctua pronuba. Tên gọi Dahlia được đặt theo tên của một nhà thực vật học người Thụy Điển thế kỷ 18 là Anders Dahl. Hoa thược dược cũng là loài hoa chính thức của thành phố Seattle, bang Washington.









Tên thông dụng: hoaThuỷ Tiên (đôi khi còn được gọi là hoa trường thọ nhưng một cách chặt chẽ thì tên gọi này chỉ áp dụng cho một loài là Narcissus jonquilla và các giống trồng được tạo ra từ loài này).
Tên khoa học: Narcissus. Chủ yếu ra hoa về mùa xuân. Có một vài loài thủy tiên ra hoa vào mùa thu. Các loài cây này chủ yếu có nguồn gốc ở khu vực Địa Trung Hải nhưng một số loài được tìm thấy tại Trung ÁTrung Quốc. Các giống cây thủy tiên khá nhiều và nói chung chúng đã được biến đổi và mở rộng rất nhiều, với các giống mới được đưa ra từ các vườn ươm mỗi năm. Có 449 tên khoa học tuy nhiên hiện nay số giống cây trồng của các loài thủy tiên là khoảng 24.000. Hoa thủy tiên là quốc hoa của Wales. Một loài, "Narcissus obvallaris", chỉ được trồng tại một khu vực nhỏ xung quanh Tenby. Tại Wales, theo truyền thống người ta đeo hoa thủy tiên vào ngày lễ Thánh David (1 tháng 3). Vài loài narcissus nổi tiếng & quen thuộc:Hoàng thủy tiên (Narcissus pseudonarcissus & Narcissus bulbocodium bulbocodium),Trường thọ trắng(Narcissus jonquilla, Narcissus obvallaris, Narcissus poeticus actaea)...
Tên thông dụng: hoa Dâm bụt hay hoa Phù Dung
Tên khoa học:
Hibiscus. Khoảng 200-220 loài đã được biết. Vài loài hibiscus nổi tiếng & quen thuộc:
  • Hibiscus acetosella - phù dung lá đỏ, phù dung châu Phi
  • Hibiscus arnottianus - dâm bụt Hawaii (koki'o)
  • Hibiscus bifurcatus
  • Hibiscus brackenridgei - dâm bụt hoa vàng, dâm bụt Hawaii (ma'o hau hele)
  • Hibiscus calyphyllus hay Hibiscus calycinus hoặc Hibiscus rockii - dâm bụt mắt chanh
  • Hibiscus cameronii - dâm bụt hoa hồng
  • Ở bên trái, hoa bắt đầu nở từ nụ. Ở bên phải là chính bông hoa này đã nở tung sau khoảng thời gian chưa đến 18 giờ.
    Hibiscus cannabinus hay Abelmoschus verrucosus, Hibiscus verrucosus - dâm bụt cần sa, đại ma cận
  • Hibiscus cisplatinus
  • Hibiscus clayi - dâm bụt Hawaii ( hoa đỏ)
  • Hibiscus coccineus hay Hibiscus semilobatus - dâm bụt Mỹ, Texas Star
  • Hibiscus coulteri - dâm
    bụt sa mạc
  • Hibiscus dasycalyx - dâm bụt lá hẹp
  • Hibiscus diversifolius - dâm bụt đầm lầy
  • Hibiscus elatus
  • Hibiscus furcellatus - dâm bụt Hawaii ('akiohala)
  • Hibiscus hamabo - dâm bụt hoa vàng Nhật Bản
  • Hibiscus heterophyllus - dâm bụt Úc
  • Hibiscus indicus hay Alcea indica, Hibiscus javanicus, Hibiscus venustus - mỹ lệ phù dung
  • Hibiscus kokio - dâm bụt Hawaii (koki'o 'ula), dâm bụt hoa đỏ
  • Hibiscus laevis hay Hibiscus militaris - dâm bụt lá kích
  • Hibiscus macrophyllus hay Hibiscus setosus, Hibiscus vestitus - dâm bụt lá to, đại diệp mộc cận.
  • Hibiscus militaris - đồng nghĩa của Hibiscus laevis
  • Hibiscus moscheutos hay Hibiscus moscheutos palustris, Hibiscus palustris - phù dung quỳ, dâm bụt đầm lầy
  • Hibiscus mutabilis hay Hibiscus sinensis, Ketmia mutabilis - phù dung thân gỗ, phù dung núi, hoa phù dung
  • Hibiscus rosa-sinensis - dâm bụt thân gỗ, mộc cận, đại hồng hoa, phù tang (phật tang).
  • Hibiscus sabdariffa hay Abelmoschus cruentus, Hibiscus digitatus, Hibiscus gossypiifolius, Hibiscus sanguineus, Sabdariffa rubra - hoa lạc thần, lạc thần quỳ, mai côi gia, sơn gia, lạc tể quỳ.
  • Hibiscus sabdariffa altissimus hay Hibiscus sabdariffa altissima: dâm bụt sợi
  • Hibiscus schizopetalus hay Hibiscus rosa-sinensis schizopetalus - liệt biện chu cận, dâm bụt hoa đỏ cánh nhỏ
  • Hibiscus splendens - dâm bụt Úc
  • Hibiscus syriacus hay Althaea furtex, Ketmia syriaca, Ketmia arborea, Ketmia syrorum, Hibiscus acerifolius, Hibiscus chinensis, Hibiscus floridus, Hibiscus rhombifolius, Hibiscus syriacus chinensis - dâm bụt thân gỗ, mộc cận
  • Hibiscus taiwanensis - phù dung núi, sơn phù dung
  • Hibiscus tiliaceus hay Hibiscus tortuosus, Hibiscus tiliaceus tortuosus - dâm bụt hoa vàng, hoàng cận, dâm bụt Hawaii (Hau)
  • Hibiscus tiliaceus henryanus - dâm bụt Tahiti (bờ biển)
  • Hibiscus tiliaceus typicus - dâm bụt Tahiti (núi)
  • Hibiscus tiliaceus sterilis - dâm bụt Tahiti (vùng đất khô)
  • Hibiscus trionum hay Hibiscus africanus, Hibiscus hispidus - cẩm quỳ Venice, hoa một giờ,
  • Hibiscus yunnanensis - phù dung Vân Nam.
  • Hibiscus waimeae - dâm bụt Hawaii (koki'o ke'oke'o)
Tên thông dụng: hoa Sim.
Tên khoa học: Violet Myrtle.
Là một loài hoa dại có màu tím, mọc trên đồng hoang.Ở VN, có một số nhạc sĩ đã sáng tác những bài về hoa sim như:Chuyện hoa sim, Chuyện người con gái hái sim. Bài thơ "Màu tím hoa sim" của nhà thơ Hữu Loan là một trong những bài thơ tình hay nhất của thế kỷ 20, viết về người vợ trẻ Đỗ Thị Lệ Ninh đã mất sau ngày cưới không lâu vì chết đuối. Các anh của “nàng”, theo tài liệu của Hàn Anh Trúc là 3 người có thực ở chiến trường Đông Bắc. Đó là Đỗ Lê Khôi - tiểu đoàn trưởng hy sinh trên đồi Him Lam, Đỗ Lê Nguyên nay là Trung tướng Phạm Hồng Cư và Đỗ Lê Khang - nguyên Thường vụ Trung ương Đoàn. Hữu Loan kể và Hàn Anh Trúc ghi lại trong một cuốn biên khảo văn học rằng, bố vợ ông trước kia làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên “vợ mình sinh ở trong ấy, quen gọi mẹ bằng má”, bài thơ mới có câu “má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối”. Hàn Anh Trúc viết là Hữu Loan sáng tác bài thơ ngay tại mộ người vợ trẻ, rồi: "ghi vào chiếc quạt giấy để lại nhà một người bạn ở Thanh Hóa. Bạn anh đã chép lại và chuyền tay nhau suốt những năm chiến tranh". Điều đó đã được chính nhà thơ Hữu Loan xác nhận.
"Màu tím hoa sim"
Nàng có ba người anh
Ði bôđôi
Những em nàng có em chưa biết nói
Khi tóc nàng đang xanh

Tôi ngườivê quốc quân
Xa gia đình
Yêu nàng
Như tìnhyêu em gái
Ngày hợphôn
Nàng không đòi may áo cưới
Tôi mặc đồ quân nhân
Ðôi giầy đinh
Bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
Bên ông chồng đôc đáo
Tôi ở đơnvị về
Cưới nhau xong là đi

Từ chiến khu ba
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
Thì thương người vợ chờ
Bé bỏng chiều quê ...

Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người em gái nhỏ hâu phương ...
Tôi về không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mô con
Ðầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
Thành bình hương
Tàn lạnhvây quanh ...
Tóc nàng xanh xanh
Ngắn chưa đầy búi
Em ơi !
Giây phút cuối
Không được nghe nhau nói
Không được trông thấy nhau môt lần
Ngày xưa...
Nàng yêu hoa sim tím
Áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
môt mình
đêm khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo ngày xưa.

Môt chiềurừng mưa
Ba người anh
Từ chiến trườngÐông Bắc
Ðược tin emgái mất
Trước tin em lấy chồng

Gió sớm thu về
Rờn rợn nước sông
Ðứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng trông ảnh chị
Khi gió sớm thu về
Cỏ vàng chân mô chí

Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
Tím chiều hoang biền biêt
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
"Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chết sớmmẹ già chưa khâu"
(Hữu Loan)


Tên thông dụng: hoa Mimosa
Tên khoa học: Acacia,
có nguồn gốc tại đại lục cổ Gondwana, thuộc về phân họ Trinh nữ (Mimosoideae) thuộc họ Đậu (Fabaceae), lần đầu tiên được Linnaeus miêu tả năm 1773 tại châu Phi. Hiẹn nay, người ta biết khoảng 1.300 loài cây keo trên toàn thế giới, trong đó khoảng 950 loài có nguồn gốc ở Australia, và phần còn lại phổ biến trong các khu vực khô của vùng nhiệt đới và ôn đới ấm ở cả hai bán cầu, bao gồm châu Phi, miền nam châu Á, châu Mỹ. Phổ biến nhất tại Đà Lạt, Việt Nam có lẽ là Acacia dealbata (keo bạc) có các lá từ màu lục xám tới màu bạc và các hoa màu vàng sáng; nó đôi khi còn bị gọi sai thành "trinh nữ" (mimosa) tại một số khu vực có trồng, bởi sự nhầm lẫn với cây trinh nữ thực thụ thuộc chi Mimosa (chẳng hạn tại Đà Lạt, Việt Nam).

n thông dụng: hoa Mào Gà. Ở Việt Nam, loài Cockscomb (Celosia cristata)phổ biến và còn có tên gọi khác là kê quan hoa hay kê đầu.
Tên khoa học: Celosia, là những cây làm cảnh hay có thể ăn được, có hình dạng và sử dụng tương tự như cây rau dền. Chúng được gọi là cây mào gà do màu sắc và hình dạng hoa giống như mào của gà. Celosia argentea là loài cây làm rau và lấy hạt làm ngũ cốc, đặc biệt ở Tây Phi, Trung PhiĐông Nam Á. Nó là loại rau quan trọng nhất ở miền nam Nigeria, ở đó nó có tên gọi là soko. Celosia cristataTrung Quốc và một số nơi khác. Là loài cây cảnh phổ biến trong vườn ở Việt Nam.

Tên thông dụng: hoa Lay ơn(Gladiolus)/ Diên vĩ (Iris) hay Nghệ Tây(Crocus spp.), sâm đại hành (Eleutherine spp.), rẻ quạt (Belamcanda spp.) v.v.
Tên khoa học:Iridaceae. Họ này chứa khoảng 80-92 chi và khoảng 1.500-1.800 loài, phân bổ rộng khắp thế giới. Khu vực sinh thái nhiệt đới châu Phi, cụ thể là Nam Phi, có sự đa dạng nhất về số chi. Một loại gia vị là bột nghệ tây (saffron) được sản xuất từ các núm nhụy của cây nghệ tây (Crocus sativus).




Tên thông dụng:hoa Nghệ, họ thực vật Zingiberaceae (họ Gừng) chứa các loài như nghệnga truật hay uất kim hương Thái Lan.
Tên khoa học:Curcuma
Ở Việt Nam có chừng 18 loài nghệ gồm các loài: Curcuma aromatica, Curcuma cochinchinensis, Curcuma thrichosantha, Curcuma domestica, Curcuma aeruginosa, Curcuma pierreanna, Curcuma angustifolia, Curcuma zedoaria, Curcuma xanthorhiza, Curcuma elata Roxb., Curcuma rubescens, Curcuma singularis, Curcuma harmandii, Curcuma parviflora. Nhiều loài nghệ trong số này đã dược nghiên cứu ở Việt nam. Một số loài tuy có tên trong sách phân loại nhưng hiện nay không tìm thấy, ngược lại một số loài nghệ khác được tìm thấy nhưng chưa được định danh.
  • Curcuma aeruginosa: Nghệ xanh (một số nơi ở miền Bắc hay gọi nhầm là nghệ đen)Curcuma aeruginosa Roxb. có thân rễ có màu xanh ten đồng.Giữa gân lá có sọc đỏ. Nhiều hình ảnh trên mạng cũng như nhiều người lầm tưởng loài nghệ này với một loài nghệ khác có thân rễ màu xanh tím. Curcuma aeruginosa được sử dụng để trị đau bụng đi ngoài rất tốt.
  • Curcuma alismatifolia: Uất kim hương Thái Lan
  • Curcuma angustifolia Roxb.: Nghệ lá hẹp, tại Việt Nam có ở Đắc Lắc. Tại Ấn độ, củ rễ của loài nghệ này được dùng như một nguồn tinh bột.
  • Curcuma aromatica: Nghệ rừng hay nghệ trắng, có ở Quảng bình, được dùng để trị ho.
  • Curcuma elataRoxb.: Mì tinh rừng, có ở các tỉnh Tây Nguyên, Việt Nam.
  • Curcuma gracillima: nghệ mảnh
  • Curcuma harmandii
  • Curcuma kwangsiensis: Nghệ Quảng Tây
  • Curcuma longa Linn. hay C.domestica Valeton: Nghệ, uất kim, khương hoàng.Một số tài liệu cho đây là hai loài nghệ khác nhau. Ở Việt nam có hai loài nghệ trồng khác nhau, thường gọi là nghệ nếp và nghệ tẻ.Tại Việt Nam có ở Quảng Bình, Quảng Nam, Đắc nông...Loài nghệ nhà đã được sử dụng từ lâu, đặc biệt tại các nước vùng Đông Nam Á và Ấn Độ với món cơm cari. Tại Việt Nam, nghệ được sử dụng làm gia vị: kho cá với nghệ, xào bún với nghệ; làm thực phẩm: mứt gừng, mứt nghệ,làm chất màu và dùng như một chất làm thuốc: bôi nghệ lên những vết sẹo để giúp lên da non.
  • Curcuma parviflora
  • Curcuma petiolata hay C.cordata
  • Curcuma pierreana Gagnepain: Bình tinh chét có ở Huế, Quảng Trị, Quảng bình,Quảng Nam (Việt Nam). Curcuma pierreana Gagnep. có thân rế rất nhỏ, cụm hoa màu cam, cách môi vàng mọc giữa thân có lá. Tinh dầu thân rễ loài nghệ này có chứa borneol.Tại miền Trung, trước đây loài nghệ này được dùng như một nguồn tinh bột với tên bột bình tinh (khác với bột một loài củ khác còn được gọi là hoàng tinh)
  • Curcuma roscoeana
  • Curcuma rubescens
  • Curcuma thorelii
  • Curcuma wenyujin
  • Curcuma xanthorrhiza Có ở các tỉnh miền đông Nam bộ, có rễ con màu vàng
  • Curcuma zedoaria - Nga truật, còn gọi là nghệ đen, ngải tím.

Trước đây, người ta dựa vào đặc điểm hình thái thực vật để phân biệt các loài nghệ. Ngày nay, ngoài đặc điểm thực vật, có thể dựa vào thành phần hóa học để giúp phân biệt các loài nghệ. Theo tài liệu Phạm hoàng Hộ Việt nam còn có một loài nghệ được gọi là Curcuma rubens Roxb. Loài nghệ này có nạc củ màu ngà, lá có sọc tía, thân lá có màu tía. cụm hoa có các chót lá hoa màu tím. Tại Tây nguyên có một loài nghệ được mô tả như loài nghệ trên. Tuy nhiên màu nạc củ của loài nghệ này thay đổi có thể có màu tím như khoai tía hoặc có màu ngà, tùy theo sự phát triển.

Tên thông dụng: hoa Ngãi
Tên khoa học:
Asteraceae

Nhiều loài biết đến như ngải đắng (Artemisia absintha), ngải dấm (Artemisia tridentata), ngải cứu (Artemisia vulgaris), thanh hao hoa vàng (Artemisia annua). Các lá có mùi thơm của nhiều loài là các vị thuốc, đôi khi cũng được sử dụng để tạo hương vị, và một số loài là quan trọng. Mọi dạng ngải đều có vị rất đắng (Artemisia arbuscula Nutt, Artemisia arctica Less., Artemisia campestris L., Artemisia cana Pursh….). Artemisia abrotanum, Artemesia pontica và ngải đắng (Artemisia absinthium) chứa thujon, được sử dụng để tạo hương vị cho rượu mùi Absinthe. Artemisia abrotanum L.: ngải chanh Mặc dù được sử dụng trong Absinthe, tinh dầu ngải tinh khiết lại là một chất độc thần kinh. Một số loài ngải là các cây trồng. Tất cả các loài ngải có thể sống trên đất cát thoát nước tự do, không được bón phân và nhiều nắng. Các loài Artemisia bị ấu trùng của một số loài bướm thuộc bộ Lepidoptera ăn.

Tên thông dụng: hoa Anh Thảo (common evening primrose) Tên khoa học: Oenothera biennis/ Cyclamen Hoa Anh Thảo Muộn (Cowslip)

Hoa Anh thảo chiều hay họ Nguyệt kiến thảo, còn gọi là họ Rau dừa nước hoặc họ Rau mương, (Tên khoa học: Onagraceae, đồng nghĩa: Circaeaceae, Epilobiaceae, Fuchsiaceae, Isnardiaceae, Jussiaeaceae, Lopeziaceae, Oenotheraceae) gồm một số loài cây trong vườn khá phổ biến như anh thảo chiều (hay nguyệt kiến thảo) (chi Oenothera) và hoa đăng (hay vân anh) (chi Fuchsia). Một vài loài, cụ thể là liễu lan (chi Epilobium) là các loài cỏ dại trong vườn, nhưng đôi khi cũng được coi là cây cảnh.Tên khoa học của họ này có nguồn gốc từ chi (cũ) Onagra (hiện nay là một phần của chi Oenothera) do John Lindley đặt năm 1836 trong lần xuất bản thứ hai của A Natural System of Botany.



Tên thông dụng: hoa Vông mồng gà/ Cockspur Coral Tree.
Tên khoa học:Erythrina crista-galli, Nó là quốc hoa của Argentina & Uruguay và thành ph Los Angeles.








Tên thông dụng:Hồng hoa đăng/ Lồng đèn đỏ/ hoa Vân Anh đỏ(Red lantern Banksia)
Tên khoa học:
Banksia caleyi






Tên thông dụng:Hoa đăng hay hoa Lồng đèn /hoa Vân Anh(Phước hoa - Fuchsia)
Tên khoa học:Fuchsia
Là hoa bông tai công nương (ladies eardrops) vì hoa rực rỡ, dáng bông tai lòng thòng xuống đất. Màu sắc thay đổi từ trắng, đỏ hồng, tím hay pha lẫn lộn giữa các màu này. Trồng Fuchsia bán ra là những giỏ treo, chậu cây, làm bồn hay trên phên dậu dáng cây mộc. Ở Mỹ thường hay trồng bán các giỏ treo hoa đăng quanh ngày, quanh lối xóm. Giống hoa đăng Fuchsia gồm khoảng 100 loài, mọc như lùm bụi cây mộc và thuộc họ thực vật o­nagraceae. Hoa đăng trông trọt là thành quả tuyển chọn lại tạo giữa 2 loài F.fulgens và F. mangellanica. F. fulgens là một lùm bụi cao khoảng 1, 2- 1,8 m, nguồn gốc Mexico F.mangellanica nguồn gốc Chi lê và Á Căn Ðình cũng là một lùm bụi nhưng lại có thể mọc cao đến 3,5 cm. Các cây thứ hoa ở thị trường có thể mọc thẳng đứng hay thân bò ngang. Loại Black Prince, Beacon, Winston Churchill là những thí dụ cây mọc thẳng đứng. Black Eyes, Starry Trail, Swingtime… là những cây mọc bò ngang.
Có 2 loi:
Quelusia Eufuchsia














- Tên thông dụng:hoa Huệ/ Bách Hợp- Tuberose/ Amaryllis
Tên khoa học:Polianthes tuberosa/Amaryllidaceae
Cây hoa huệ thuộc họ thuỷ tiên, hình dáng giống cây tỏi. Hoa huệ có hai giống, huệ đơn còn gọi là huệ xẻ, cây thấp bông ngắn và thưa; huệ kép còn gọi là huệ tứ diện, cây cao, hoa dày và bông dài. Có hai loại: Huệ trâu cao khoảng 1,5- 1,6 mét bông dài, Huệ ta bông ngắn, thường nở trên cây, có mùi thơm.Về mùi thơm của hoa Huệ thì không có vùng nào sánh bằng các xã Tân Quý Tây, Bình Chánh, Hưng Long, Tân Túc của huyện Bình Chánh.



- Tên thông dụng:Hoa Huệ Tây hay "hoa loa kèn" hay Lys/ Yuri. / Lily (hay Valentine Flower). Hoa Loa kèn nở đầu năm, đúng vào dịp Lễ hội tình yêu 14/2 theo phong tục cuả nhiều nước Châu Âu. Do có nhiều loại hoa, mỗi loại có màu sắc đẹp riêng nên được các bạn trẻ ưa thích và tặng nhau. Cái tên Hoa tình yêu ra đời từ đó. Tất cả đều thuộc họ Lan Huệ (còn gọi là họ Thuỷ Tiên) AMARYLLIDACEAE. Mùa hoa từ tháng 2 đến tháng 11 dương lịch.Cây Loa kèn hồng sọc đỏ có tên khoa học là Hippeastrum reculatum Herb. Tên khoa học: Lilium (Liliaceae) Với người Pháp, huệ tây là biểu thị của lòng trong trắng, trinh tiết.












- Tên thông dụng: Hoa Bất Tử
hay còn gọi là cúc bất tuyệt
Tên khoa học: Helichrysum bracteatum thuộc họ Cúc (Asteraceae).
Tại Việt Nam được trồng phổ biến ở Đà Lạt, được coi là biểu tượng cho tình yêu bất diệt. Hoa bất tử thường được các bạn trẻ tặng nhau để thể hiện tình yêu của mình. Những bông hoa bất tử nhỏ bé nhưng lại mang ý nghĩa sâu sắc tuy những cánh hoa đã chết song nó vẫn giữ được màu sắc ban đầu của mình; chính vì điều ấy, hoa bất tử được thể hiện như minh chứng của tình yêu vĩnh cửu.

- Tên thông dụng: Hoa Hải Đường ( Tên khoa học: Malus), bao gồm tây phủ hải đường, thùy ti hải đường.
  • Tên gọi khác của một số loài trong chi Mộc qua (Chaenomeles) họ Hoa hồng (Rosaceae), bao gồm thiếp ngạnh hải đường, mộc qua hải đường, hải đường Nhật Bản.
    • Thiếp ngạnh hải đường (Chaenmoeles lagenaria, Chaenomeles speciosa): còn gọi là mộc qua vỏ nhăn, mộc qua hoa, thiết cước hải đường.
    • Hải đường Nhật Bản (Chaenomeles japonica).
    • Mộc qua hải đường (Pseudocydonia sinensis, đồng nghĩa: Chaenomeles sinensis): còn gọi là minh tra.

  • Trong tên gọi của các loài thuộc họ Thu hải đường (Begoniaceae), bộ Bầu bí (Cucurbitales), bao gồm tứ quý hải đường, cầu căn hải đường, xem bài Thu hải đường.



  • Tên gọi khác của chi Hoa vân anh (hay hoa đèn lồng-Fuchsia) họ Anh thảo chiều (Onagraceae): đăng lung hải đường, điếu chung hải đường.
  • chi Tiên khách lai (Cyclamen) của họ Đơn nem (Myrsinaceae) còn gọi là la bặc hải đường.


  • Tên gọi của một loại trà hoa ntên khoa học: Camellia amplexicaulis







- Tên thông dụng: Hoa cẩm chướng/
Carnation
Tên khoa học:Dianthus caryophyllus(Caryophyllales)









- Tên thông dụng:Hoa Bồ Công Anh/ Dandelion
Tên khoa học:Taraxacum







- Tên thông dụng: Tử Đinh Hương /Đinh hương/ Lilac
Tên khoa học:Syringa thuộc họ Ô liu (Oleaceae),








- Tên thông dụng: hoa Tường Vy(?) (Crape Myrtle) hay còn gọi là Tử Vi Tàu, Bá Tử Kinh, là một loại cây gỗ, thường bị nhầm với Tầm Xuân (hồng leo). Tầm Xuân là loài sống leo, cho hoa như hoa hồng tỉ muội ! Mọc hoa thành từng cụm to ở đầu cành, Tường Vy cũng cho hoa đầu cành nhưng cụm hoa rất khác hoa Tầm Xuân. Có hai loại Tường Vy: màu hồng và màu trắng, đều có nhụy vàng. Tên khoa học:Lagerstroemia indica, Lagerstroemia x fauriei












- Tên thông dụng:Hoa Đồng Thảo,
còn 1 số tên gọi khác như hoa Móng Tay, hoa Lan Đất... Có nhiều màu : trắng, hồng, vàng
Tên khoa học:Cymbidium





- Tên thông dụng:Hoa Đồng Tiền
Tên khoa học:Gerbera jamesonii (Gerbera)








- Tên thông dụng: Hoa Dạ Lan Hương
Tên khoa học:Hyacinthaceae










- Tên thông dụng: Hoa Cỏ Chân Ngỗng/Mao lương
Tên khoa học:Ranunculaceae









- Tên thông dụng:Hoa Lục bình
Tên khoa học: Eichlornia crasspes (Ponterediaceae).







- Tên thông dụng: hoa Calla, Bog Arum, Marsh Calla
Tên khoa học:Calla palustris



Tham kho:
http://my.opera.com/bambiandfay/albums/show.dml?id=150587
http://www.vncreatures.net/tqthucvat.php

2. California:
a. Hoa ti
êu biu ca tiu bang California:

Tên khoa học: Eschscholtzia californica
Tên thông dụng: California Poppy


Species of Eschscholzia









Eschscholzia californica ssp. mexicana
Eschscholzia caespitosa

Eschscholzia lobbii

Eschscholzia parishii

























b. Vài loại hoa khác ở California:


Tên khoa học: Clarkia unguiculata
Tên thông dụng:
Elegant Clarkia - Evening Primrose family






Tên
khoa học: Alyogyne hakeifolia
Tên thông dụng:
Australian hibiscus









Tên khoa học: Gossypium sturtianum
Tên thông dụng:
Australian hibiscus









Tên khoa học: Alyogyne huegelii
Tên thông dụng:
Australian hibiscus







Tên khoa học: Leucadendron 'Jester'
Tên thông dụng:
Leucadendron ‘Jester’









Tên khoa học: King Proteas (Proteaceae)
Tên thông dụng:
South African Leucadendron ‘Red Gem’










Tên khoa học:Aloe vossii
Tên thông dụng:
Yellow Aloe






Tên khoa học: Protea cynaroides (Proteaceae)
Tên thông dụng:
King Protea











Tên khoa học: Grewia occidentalis
Tên thông dụng:
Lavender Starflower






Tên khoa học: Dimorphotheca sinuata (Asteraceae)
Tên thông dụng:
South African daisy
.





Tên khoa học: Leucospermum 'Veldfire' (Proteaceae)
Tên thông dụng:
Nodding Pincushion Protea





Tên khoa học: Cistus hybridus
Tên thông dụng:
European Rock Rose







Tên khoa học: Iris cristata (Iridaceae)
Tên thông dụng:
‘Frequent Flyer’ iris / White Tall Bearded Iris




Tên khoa học: Euphorbia characias wulfenii
Tên thông dụng:
Mediterranean Spurge





Tên khoa học:
Eriogonum fasciculatum
Tên thông dụng:
Wild (California) Buckwheat

No comments:

Post a Comment

Post a Comment