Friday, October 23, 2009

Mekong và chúng ta(13)

Với mức tăng trưởng nhu cầu điện hằng năm 6 - 10%, vùng Đông Nam Á chắc chắn sẽ có nhiều công trình mới về quản lý tài nguyên nước trên toàn khu vực, đặc biệt là dọc sông Mêkông. Tuy nhiên, điều này liệu có dẫn tới tăng cường hợp tác xuyên quốc gia hay không?

Đã có nhiều tài liệu viết về nhu cầu tăng cường hợp tác nhiều hơn nữa trong phát triển tài nguyên nước ở Đông Nam Á. Kinh tế các nước khu vực này đang tăng trưởng nhanh chóng và vì vậy nhu cầu điện năng tăng cao đang khuyến khích phát triển một chuỗi các công trình thuỷ điện mới trên hệ thống sông Mêkông và các dòng sông khác. Quyết định của Trung Quốc đẩy mạnh xây dựng các dự án đập của riêng họ trên thượng nguồn dòng sông Mêkông có thể giảm tác động của bất kỳ nỗ lực quản lý tài nguyên nước trong vùng hạ lưu, nhưng Uỷ ban sông Mêkông (Mekong river commission - MRC) đang đưa ra một loạt sáng kiến nhằm thúc đẩy hợp tác nguồn nước trong khu vực.
Cải cách kinh tế tại một số quốc gia cùng với sự hồi phục sau cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1998 đã dẫn đến mức tăng trưởng nhu cầu điện hằng năm 6 - 10% tại Đông Nam Á. Mặc dầu cũng có một số nhà máy nhiệt điện đang được triển khai, nhưng nói chung thuỷ điện được xem là sự lựa chọn hấp dẫn hơn về mặt kinh tế. Thiếu hydrocarbon trong khu vực, gia tăng cạnh tranh khí hoá lỏng tại vùng lòng chảo Thái Bình Dương (Pacific Basin) và giá dầu quốc tế tăng cao, tất cả đều khiến cho nhiên liệu dùng cho các nhà máy nhiệt điện trở thành lựa chọn đắt đỏ và khó có thể đoán trước được chi phí vận hành trong tương lai.
Điện hạt nhân còn ít được quan tâm trong khu vực này, trong khi năng lượng gió và mặt trời còn chưa thực sự phát triển và chỉ quốc đảo Philippin có công suất điện địa nhiệt đáng kể. Kết quả là, thuỷ điện chắc chắn sẽ tiếp tục chiếm ưu thế trong cân bằng nguồn điện của khu vực, mặc dù cũng có ít nhiều lo ngại rằng sông Mêkông sẽ bị khai thác quá mức. Cũng như ở sông Nile và nhiều dòng sông khác đã tạo điều kiện cho sự phát triển của các nền văn minh nước, ước tính có đến 65 triệu người dân dựa vào nước dâng hằng năm cùng với gió mùa để có được nguồn nước và phù sa. Do đó, sông Mêkong là rất quan trọng về mặt kinh tế, xã hội và cả biểu tượng.

Sông Mêkông

hop tac xuyen bien gioi 02.JPG
Sông Mêkông bắt nguồn từ Tây Tạng, chảy qua Trung Quốc, Myanma, Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam cuối cùng đổ ra biển Đông. Đây là con sông dài thứ 10 trên thế giới (khoảng 4.880 km) và cũng là con sông có lưu lượng lớn thứ 10 thế giới, hằng năm đổ ra 475 km3 nước từ lưu vực rộng tới 810.000 km2. Trên thế giới có hơn 200 con sông chảy qua biên giới giữa các nước nhưng chỉ vài con sông chảy qua nhiều nước như sông Mêkông. Vì vậy, các quốc gia ở hạ lưu sông Mêkông đặc biệt thiên về các công trình phát triển do các chính phủ khác thực hiện ở phía thượng nguồn.
Trong vòng 15 năm qua, lưu lượng nước ngày càng trở nên thất thường hơn, tuy nhiên vẫn còn chưa rõ ràng ở mức độ nào đây là do lượng mưa ngày càng thất thường - có thể là hậu quả của sự thay đổi khí hậu - và do thiếu sự kiểm soát trong xây dựng đập. Thường thì lưu lượng của sông Mêkông tụt giảm trong mùa khô (thường kéo dài từ tháng 11 cho tới tận tháng 5). Tuy nhiên, theo ghi nhận trong những năm 1990, tốc độ dòng chảy đã giảm xuống từ 50.000 m3/s trong mùa gió mùa xuống chỉ còn 2.000 m3/s vào cuối mùa khô, mặc dầu thực tế là con sông này được cấp nước một phần từ các sông băng bên Tây Tạng. Điều này dẫn tới mực nước rất thấp tại các đập chính ở vùng hạ lưu và công suất phát điện bị tụt giảm mạnh. Thêm vào đó, dòng chảy rất thấp dẫn tới hiện tượng nhiễm mặn, ảnh hưởng tới đất nông nghiệp.
Nhiều công trình phát triển khác cũng có thể phải chịu trách nhiệm về các vấn đề về dòng chảy. Một số đoạn sông nông được nạo vét, một số thác ghềnh bị phá huỷ vì chính phủ Trung Quốc tìm cách để tàu bè có thể đi lại được trên con sông này. Một vài tổ chức phi chính phủ đã yêu cầu chính phủ Trung Quốc bồi thường cho cư dân sống ở vùng hạ lưu vì ảnh hưởng tới mùa màng và nghề cá của họ. Tuy nhiên, Bắc Kinh đáp lại rằng tất cả công trình phát triển trên dòng sông này đều được thực hiện trên phần đất của Trung Quốc và do đó Trung Quốc không có trách nhiệm về bất kỳ tác động nào ở phía hạ lưu. Chính sách của Trung Quốc đặc biệt quan trọng trong mùa khô bởi vì sông Mêkông (Trung Quốc gọi là sông Lam Thương) chiếm khoảng 50 - 70% dòng chảy nước tại cửa sông Mêkông, cao hơn rất nhiều so với mức trung bình 20% mà nó cung cấp.
Thái độ này nêu bật sự thiếu cơ sở pháp lý quốc tế quản lý việc phát triển xuyên quốc gia dòng sông này. Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) được áp dụng để xác lập một bộ các quy tắc và cách thức hành động đã được chấp nhận về phát triển ngoài biển, sao cho những tranh chấp về biên giới trên biển sẽ không trở nên căng thẳng hơn do những xung đột về chủ quyền, ví dụ các tài nguyên dầu và khí. Thế nhưng hiện nay chưa có một thoả thuận quốc tế tương tự về các công trình phát triển dòng sông có thể giúp tránh các tranh chấp về tài nguyên nước. Sẽ tốt hơn nhiều cho Liên Hợp Quốc nếu như ngay từ bây giờ bắt tay vào xây dựng một cơ cấu như vậy hơn là ngồi đợi tới khi các tranh chấp về sông Mêkông và các sông khác ngày càng leo thang và các quyền lợi gắn liền trở nên chặt chẽ hơn.

hop tac xuyen bien gioi 03.JPG
Đập Dachaoshan- TQ

Các quốc gia hạ lưu phàn nàn về ảnh hưởng của việc xây dựng các đập Dachaoshan và Manwan ở Trung Quốc, được hoàn thành tương ứng vào năm 1995 và 2003, nhưng đập thứ ba, dự án Xiaowan hiện đang xây dựng và dự kiến hoàn thành vào năm 2010. Đập Xiaowan sẽ cao 292 m với khoản đầu tư 2,7 tỷ USD sẽ cung cấp 4,2 GW công suất điện, trong khi đó 5 đập lớn khác đang được lên kế hoạch, chủ yếu phục vụ kiểm soát lũ và tưới tiêu hơn là phát điện.
Theo các báo cáo ở Thái Lan, do việc xây dựng đập ở Trung Quốc đã ngăn toàn bộ dòng chảy sông Mêkong mỗi lần tới năm ngày nên một số tàu thuyền hiện phải mất hàng tuần để hoàn thành chuyến đi lẽ ra chỉ mất có ba ngày. Điều này đã phản ánh các vấn đề rắc rối về vận chuyển đường thuỷ, thu hút sự quan tâm rộng rãi của các phương tiện thông tin đại chúng quốc tế năm 2004, khi mực nước thấp hơn 1m đã khiến cho nhiều tàu thuyền bị mắc cạn. Vào thời điểm đó, đợt hạn hán khu vực là nguyên nhân chính của mực nước thấp nhưng Uỷ ban sông Mêkông (MRC) vẫn khẳng định rằng các đập của Trung Quốc đã khiến cho tác động này trở nên nặng nề hơn.
Tuy nhiên, các công ty của Trung Quốc tham gia các công trình thuỷ điện khác nhau lại không tin rằng các dự án đập củahọ sẽ ảnh hưởng bất lợi đến các quốc gia vùng hạ lưu. Ông Ma Hongqi, kỹ sư trưởng của Công ty Phát triển Thuỷ điện sông Lam Thương (Vân Nam) nói rằng bản nghiên cứu về tác động của đập Xiaowan đã đi đến kết luận rằng “dự án Xiaowan chỉ tác động ở mức hạn chế tới vùng hạ lưu của con sông này. Hơn nữa, dự án đập này sẽ có ích cho tưới tiêu và giao thông thuỷ tại vùng hạ lưu.”

hop tac xuyen bien gioi 04.JPG
Đập Manwan -TQ

Dự án Xiaowan sẽ tạo ra một hồ chứa rộng 190 km2 mà các quan chức Trung Quốc tin rằng sẽ tăng dòng chảy tới vùng hạ lưu sông Mêkông lên tới 40%. Phát ngôn viên của Công ty Phát triển Thuỷ điện sông Lam Thương (Vân Nam) cũng chỉ ra rằng chương trình trồng rừng 20 năm được phát động năm 1999 sẽ tăng tỷ lệ phủ rừng quanh sông Mêkông ở Trung Quốc từ 38% lên 50% vào năm 2019. Công ty này cũng khẳng định rằng chất lượng nước của con sông này đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về nước sạch.

Uỷ ban sông Mêkông (MRC)

MRC được thành lập nhằm điều phối việc xây dựng đập trong lưu vực hạ lưu sông Mêkông, khi mà nguy cơ nhu cầu nước cho phát điện và tưới tiêu có thể đe doạ dòng sông Mêkông đã trở nên rõ ràng. Tuy nhiên, Trung Quốc và Myanma cho đến nay vẫn không tham gia tổ chức này, thay vào đó họ chỉ giữ ở vị trí quan sát viên, vì vậy có một hạn chế rõ ràng về tác động lớn mà họ tạo ra đối với việc xây dựng đập trên thượng nguồn. Tổ chức này, trụ sở chính tại Phnom Pênh, đã yêu cầu chính phủ Trung Quốc thông tin về hoạt động của các đập của Trung Quốc, đặc biệt là trong đợt hạn hán năm 2004, nhưng Bắc Kinh không chịu đưa ra thông tin chi tiết.

MRC đã đạt được bước đột phá vào năm 2005 khi Bắc Kinh đồng ý tham gia thảo luận kỹ thuật với Uỷ ban về việc sử dụng sông Mêkông. Các chủ đề chính được thảo luận là quản lý và giảm tác động của lũ, và giao thông thuỷ. Ông Sitaheng Rasphone, chủ tịch của Uỷ ban phối hợp MRC đã bình luận: “Các lĩnh vực cộng tác tiềm năng này đối với tôi là đầy hứa hẹn và đáng chú ý. Đối thoại này là thiết yếu để chúng ta hiểu biết lẫn nhau và tiến xa hơn nữa trong sự hợp tác của chúng ta. Những lợi ích của sự hợp tác như vậy sẽ có quy mô toàn lưu vực.”

Tại cuộc gặp gỡ hằng năm của MRC năm 2006 với chính quyền Trung Quốc và Myanma, ông Sin Nivy, Phó chủ tịch Uỷ ban sông Mêkông quốc gia Campuchia, cho biết: “MRC đã theo đuổi việc không ngừng trao đổi thông tin và tham vấn với Trung Quốc và Myanma nhằm tăng cường và nâng cao sự hợp tác và tôi hài lòng được thông báo rằng hiện có tiềm năng đáng kể về tiếp tục hợp tác tại một loạt lĩnh vực chuyên môn”. Mặc dù cả hai quốc gia này vẫn còn chưa muốn tham gia tổ chức này, nhưng hiện nay một số dữ liệu đã được chia sẻ giữa các quốc gia trong Lưu vực sông Mêkông. Đặc biệt, văn phòng của MRC đã bắt đầu cung cấp cho Trung Quốc các dữ liệu dòng chảy hằng tháng từ các trạm thuỷ văn ở Chiang Saen (Thái Lan) và Stung Treng (Campuchia).
Tháng 5/2007, ông Olivier Cogels, Giám đốc điều hành của MRC lập luận rằng việc thu thập thông tin tốt hơn và chia sẻ nó là chìa khoá để làm giảm tác động của lũ trên sông Mêkông, cho dù lũ có phải là do các đập của Trung Quốc gây ra hay không. Ông cho rằng hằng năm có nhiều người bị chết đuối là do các hệ thống cảnh báo sớm và dự báo lũ kém hiệu quả. Ông Cogel còn thêm rằng: “Các quốc gia thành viên chúng ta đã hoặc đang đưa vào một loạt hành động nhằm giúp họ đối phó với những thay đổi này, nhưng họ cần có công cụ, dữ liệu và thông tin giúp họ đưa ra quyết định đúng đắn”. Việc đảm bảo thông tin chi tiết về lượng mưa và dòng chảy từ Trung Quốc là đặc biệt quan trọng và có thể giúp MRC cảnh báo người dân trong các vùng nguy hiểm về rủi ro lũ nhiều ngày trước khi dòng sông này bắt đầu đợt lũ. Tháng 12/2006, MRC tiết lộ rằng Uỷ ban giờ đây sẽ nỗ lực hơn nữa giải quyết vấn đề gai góc là dàn xếp các mối bất hoà xuyên biên giới. Trước mắt, tổ chức này sẽ thiết lập các cơ cấu thường trực cho việc thương lượng, nhưng tiến bộ nếu có thì chắc chắn sẽ không thể nhanh bởi vì rõ ràng là các chính phủ không muốn giao phó một chút nào về chủ quyền hoặc quyền kiểm soát tài nguyên thiên nhiên của họ. Tuy nhiên, bốn nước thành viên là Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam đã thiết lập Chương trình Sử dụng Nước (Water Utilization Program - WUP), với sự ủng hộ của Cơ quan Môi trường Toàn cầu (Global Environment Facility - GEF) của Ngân hàng Thế giới. Theo WUP, bốn quốc gia này thoả thuận về dòng chảy hằng tháng tối thiểu chấp nhận được vào mùa khô; dòng chảy ngược tự nhiên chấp nhận được của hồ Tonle Sap trong mùa mưa; và ngăn ngừa dòng chảy đỉnh lớn hơn xảy ra một cách tự nhiên. Một khi đã thống nhất, một chuỗi các trạm thuỷ văn sẽ được xây dựng dọc con sông này nhằm theo dõi dòng chảy và mức nước của sông, các quốc gia thành viên của MRC được yêu cầu phải thay đổi việc sử dụng các đập của họ nếu các giới hạn đã thoả thuận không được đáp ứng. Ông Cogels bình luận: “Hiện chúng tôi có sự đồng thuận cao để hỗ trợ cho công việc của mình trong 5 năm tới. Chúng tôi giờ đây phải bắt tay vào việc thực hiện chương trình tổng thể nhằm mang lại lợi ích cho người dân sống ở Lưu vực sông Mêkông.”Mặc dù cho đến nay, tiến trình của MRC có vẻ như chậm, nhưng Uỷ ban này đã bảo đảm nhiều sự hỗ trợ về tài chính từ các nhà tài trợ nước ngoài trong hai năm qua. Gần đây nhất là vào tháng 4/2007, Cơ quan Phát triển Quốc tế của Mỹ (USAID) đã thoả thuận ủng hộ những nỗ lực của MRC nhằm giải quyết những mối bất hoà xuyên biên giới trong Lưu vực sông Mêkông. Mặc dù chưa công bố khoản hỗ trợ này là bao nhiêu nhưng MRC tiết lộ rằng nó sẽ tăng cường sự hợp tác khu vực hiệu quả thông qua “triển khai các cơ chế giải quyết mối bất hoà và nhân nhượng, cụ thể như cùng quản lý, ý kiến đóng góp của công luận, sự tham gia của cổ đông và xây dựng các thể chế.”Ông Cogels hoan nghênh sự hỗ trợ này và cho biết: “Người dân Lưu vực sông Mêkông cần phải sử dụng nguồn nước của họ tốt hơn nếu họ muốn đạt được các mục tiêu giảm nghèo, nhưng họ nhận thức được sự cần thiết của việc lập kế hoạch và bàn bạc kỹ lưỡng trước khi cho triển khai. Với chương trình mới này, chúng tôi sẽ được trang bị tốt hơn để giúp các thành viên của Uỷ ban xua tan mọi vấn đề xuyên biên giới tiềm tàng trước khi nó nảy sinh.”Tháng 4/2007, chính phủ Thuỵ Điển đồng ý cấp 6,4 triệu USD trong giai đoạn 2007 – 2009 để hỗ trợ cho Chương trình Môi trường, Kế hoạch Phát triển Lưu vực, Chương trình Nghề cá và hỗ trợ thể chế chung. Sự kiện này xảy ra chỉ hai tháng sau khi Phần Lan ký thoả thuận cung cấp 8,6 triệu USD tài trợ Chương trình mới về Quản lý Thông tin và Tri thức của MRC và Đan Mạch cũng đồng ý cấp 9 triệu USD cho các mục đích tương tự.

Hỗ trợ việc tích hợp ngành điện
Bên cạnh đó, Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) hiện đang đóng vai trò hỗ trợ MRC. Sự tham gia của các ngân hàng này một phần bắt nguồn từ việc hỗ trợ một số công trình thuỷ điện cụ thể trong khu vực. Ví dụ, ADB đã cấp khoản vay trị giá 20 triệu USD để hỗ trợ công trình Nậm Thơm II công suất 1.070 MW tại Lào, trên một phụ lưu của sông Mêkông. Phần lớn điện từ dự án này sẽ xuất khẩu sang Thái Lan nhưng một phần đáng kể sẽ được giữ lại để sử dụng trong nước.
Trong một báo cáo gần đây về dự án này, ADB và Ngân hàng Thế giới đã hoan nghênh những cố gắng tăng cường việc cấp vốn cho dự án này và giảm bớt các tác động xã hội và môi trường. Tuy nhiên, họ cũng đã phê phán về mức độ sói mòn và mức bồi thường cho các cộng đồng bị ảnh hưởng. Đơn vị vận hành là Công ty điện Nậm Thơm II có hợp đồng cung cấp điện trong 31 năm, đảm bảo thành công về mặt tài chính của dự án.
Ngân hàng Thế giới cũng đã tặng chính phủ Campuchia khoản tài trợ trị giá 18,5 triệu USD nhằm khuyến khích mua bán điện năng qua biên giới trong Lưu vực sông Mêkông. Khoản tặng này sẽ tài trợ cho nghiên cứu khả thi một công trình thuỷ điện chưa được nêu tên và xây dựng một đường dây truyền tải điện từ Campuchia tới Nam Lào để giúp Campuchia nhập khẩu điện. Nguồn vốn bổ sung cũng đang được cấp thông qua khoản vay trị giá 22 triệu USD từ Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC).
Đường liên kết thứ hai cũng có thể được xây dựng từ Campuchia tới Việt Nam để bán điện dư thừa. Với việc phát triển một lưới điện toàn khu vực, người ta hy vọng những nước tương đối nghèo điện năng, cụ thể như Campuchia, có thể khuyến khích đầu tư vào các công trình thuỷ điện mới, vì các nhà đầu tư tiềm năng sẽ có thể xuất khẩu điện tới các thị trường láng giềng nếu có yêu cầu. Sự hỗ trợ đa phương tương tự tại Việt Nam cũng đã khuyến khích đầu tư tư nhân vào ngành thuỷ điện trong nước.
Ông Cogels hoan nghênh mọi sự ủng hộ và bình luận: “Phần Lan hiểu tầm quan trọng của việc MRC có được một cơ sở tri thức toàn diện và đáng tin cậy để cung cấp những thông tin đúng chủng loại cho các quốc gia Thành viên của MRC để tiến hành phát triển nguồn nước và các tài nguyên liên quan, giúp giảm nghèo. MRC cũng đã thiết lập một nền tảng vững vàng cùng với các cơ sở dữ liệu hiện nay của mình, nhưng giờ đây, chúng ta cần phải xây dựng trên nền tảng này nếu chúng ta muốn đạt được quy hoạch dài hạn lưu vực, đem lại lợi ích cho người dân lưu vực sông Mêkông, đồng thời vẫn đảm bảo duy trì cân bằng sinh thái.”
Hợp tác lớn hơn về phát triển đập và chia sẻ thông tin về cung cấp nước giữa các quốc gia thành viên của MRC đương nhiên là đáng hoan nghênh. Các con sông quốc tế luôn luôn dễ dẫn đến các tranh chấp nguồn nước; việc tạo ra một cơ chế thường trực về đàm phán, hợp tác và chia sẻ dữ liệu là một bước đi tích cực cho đến nay rõ ràng đã được cộng đồng quốc tế ủng hộ về phương diện tài chính. Tuy nhiên, mục tiêu cuối cùng của cả MRC và cộng đồng quốc tế là phải đưa Myanmar và đặc biệt là Trung Quốc gia nhập tổ chức này.
Việc Bắc Kinh chấp nhận vai trò quan sát viên là một bước đi đúng hướng và việc chia sẻ thông tin với Trung Quốc đã có một số tiến bộ. Mặc dầu vậy, chính phủ Trung Quốc vẫn tiếp tục đẩy mạnh xây dựng đập, bất chấp sự phản đối mạnh mẽ trong khu vực. Với việc tham gia MRC và chú ý tới các mối quan ngại của các nước trong lưu vực hạ lưu sông Mêkông, Bắc Kinh ít nhất cũng chứng tỏ rằng các mối quan ngại của các nước ở vùng hạ lưu là đáng quan tâm. Liệu điều này có thể giảm bớt được số lượng đập đã được lên kế hoạch xây dựng hoặc giúp giảm đến mức tối thiểu tác động của chúng hay không thì cũng còn phải chờ xem, nhưng một khi các quốc gia trong lưu vực thượng nguồn vẫn còn đứng bên ngoài quá trình quản lý thì chẳng có một tổ chức quản lý lưu vực sông nào có thể thực sự hoạt động hiệu quả.

Tóm tắt về ủy ban sông Mê Kông
Lịch sử
Thành lập 5/4/1995 bởi một hiệp định giữa các chính phủ Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam, thoả thuận về việc quản lý chung các tài nguyên nước được chia sẻ của quốc gia mình và phát triển tiềm năng kinh tế của con sông này. Trung Quốc và Myanmar trở thành các đối tác đối thoại của MRC vào năm 1996 và hiện các quốc gia này phối hợp trong khuôn khổ hợp tác.

Tổ chức này có bốn mục tiêu cho giai đoạn 2006 - 2010
· Thúc đẩy và ủng hộ phát triển phối hợp, bền vững và vì người nghèo;
· Nâng cao hợp tác khu vực hiệu quả;
· Củng cố việc theo dõi môi trường và đánh giá tác động trong toàn lưu vực;
· Củng cố năng lực quản lý tổng hợp tài nguyên nước và cơ sở tri thức của các cơ quan thuộc MRC, các uỷ ban sông Mêkông quốc gia, các cơ sở đường dây điện và các cổ đông khác.(Theo http://bkeps.com/new/hop-tac-thuy-dien-xuyen-bien-gioi.html)

Mekong và chúng ta(14)

“Thượng lưu sông Mekong (Upper Mekong Basin) là vùng động đất, với những chuyển động địa chấn đáng kể nên người ta có lý do để sợ rằng động đất sẽ xảy ra khi xây những con đập ở thượng nguồn”. [1]

Đó cũng là chủ điểm một bài viết của Bác sĩ Ngô Thế Vinh cách đây 7 năm, đã đăng trên tạp chí Thế Kỷ 21 số 158 tháng 06/2002, đề cập tới mối nguy cơ động đất từ những con đập thủy điện Vân Nam; ở thời điểm đó lời báo động ấy được xem như quá xa vời.

Rồi những trận động đất lớn liên tiếp xảy ra trong những năm sau này, nơi vùng Tây Nam Trung Quốc với những tàn phá rộng lớn và nhiều con đập thủy điện trong vùng bị hư hại; sự kiện này đã khiến chính những học giả và các nhà hoạt động môi sinh ngay tại Trung Quốc đã phải gửi một kiến nghị 12/06/2008 kêu gọi chính quyền Bắc Kinh phải duyệt xét lại sự an toàn của những con đập thủy điện trên khu vực địa chấn không ổn định là vùng Tây Nam Trung Quốc; trong đó có đề nghị nhà nước Trung Quốc phải ngưng ngay việc chuẩn thuận những dự án đập thủy điện lớn trong vùng, cho đến khi nào hoàn tất những bước nghiên cứu về tính khả thi và an toàn của những dự án đập; đáng chú ý nhất là yêu cầu “công khai hóa (make public)” những thông tin có được từ các công trình “tái khảo sát” ấy [6] – điều mà bấy lâu nay Trung Quốc luôn luôn giữ kín và che đậy.

Bauxite Việt Nam

Những con đập Lan Thương* trên vùng động đất Vân Nam

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long

BS Ngô Thế Vinh

NHỮNG TRẬN ĐỘNG ĐẤT VÂN NAM

Theo USGS (Cơ quan Khảo sát Địa chất Mỹ), vùng Tây Nam Trung Quốc bao gồm tỉnh Vân Nam, có nhiều “hoạt động địa chấn (seismically active)”. Các trận động đất liên tiếp tàn phá Trung Quốc trong thế kỷ trước và đầu thế kỷ 21 thường có “tâm địa chấn (epicenter)” nằm trong khu vực này.

Cũng theo Tân Hoa Xã (Xinhua), do Vân Nam là vùng động đất nên chỉ trong vòng 50 năm qua đã có tới 11 trận động đất lớn hơn 6 độ Ritchter. Có thể điểm qua các trận động đất ở Vân Nam trong thập niên đầu của thế kỷ 21 này:

– Năm 2000: ngày 15/01, hai trận động đất 5.9 và 6.5 ở Vân Nam, đã phá hủy 10.000 căn nhà gạch và gỗ, 371 người bị thương và 4 tử vong – theo CSB (China Seismological Bureau).

– Năm 2003: ngày 21/07, động đất 6.0 ở Vân Nam, đã phá hủy 24.000 căn nhà, gây hư hại 1.186.000 căn nhà khác, 584 người bị thương với 16 tử vong – theo USGS (US Geological Survey).

– Năm 2008: ngày 31/08, động đất 6.1, ở hai tỉnh Vân Nam và Tứ Xuyên với hậu chấn, đã phá hủy 250.000 căn nhà, với 467 người bị thương và 38 tử vong; tâm địa chấn rất gần với vùng động đất 7.9 xảy ra trước đó 3 tháng (12/05/2008) giết hại hơn 70.000 người và 10 triệu người không nhà – theo Reuters & AP.

– Năm 2009: ngày 09/07, động đất 5.7 ở Vân Nam với 8 hậu chấn: phá hủy 10.000 căn nhà, thêm 30.000 căn nhà khác bị hư hại, 300 người bị thương và 50 thương tích trầm trọng – theoWikipedia.

Việc xây những con đập thủy điện khổng lồ trên một vùng thường xuyên xảy ra những trận động đất như vậy, khiến người ta không thể không tự hỏi về sự an toàn cấu trúc của chuỗi những con đập bậc thềm trên sông Lan Thương (tên Trung Quốc của con sông Mekong) và cả mối lo ngại về nguy cơ vỡ đập kèm theo những trận hồng thủy có sức tàn phá khủng khiếp giáng xuống đầu các quốc gia hạ nguồn.

Nội dung bài viết sau đây của tác giả Ngô Thế Vinh là một nỗ lực đi tìm câu trả lời cho vấn nạn ấy.

AN TOÀN CỦA CÁC CON ĐẬP THỦY ĐIỆN

Đó là mối quan tâm hàng đầu, không phải chỉ của các chuyên gia xây đập mà còn là mối ưu tư của cư dân sống ven sông và của các quốc gia hạ nguồn, nhất là đối với những con đập rất cao và hồ chứa nước cực lớn như chuỗi những con đập bậc thềm Vân Nam.

Mối e ngại lại càng gia tăng khi được biết các con đập ấy được xây trên một vùng rất thường xảy ra những trận động đất với mức độ tàn phá rộng lớn.

Theo giáo sư Shunzo Okamoto thuộc đại học Tokyo thì sức nước hãm ép của hồ chứa có thể gây động đất, nhất là nơi mà “thế năng động đất” (potential earthquake energy) đã tích lũy ở mức cao. [1]

Điển hình là Nhật Bản vốn nằm trên vùng địa chất không ổn định, thường xảy ra các trận động đất, nên mỗi dự án xây đập đều được khảo sát thật chu đáo trên mọi khía cạnh, nhất là địa chất, với những hồ sơ theo dõi các trận động đất lớn nhỏ và hoạt động của từng núi lửa, cả việc xác định xem có rãnh nứt dưới lớp địa tầng hay không. Do đó đã có một số công trình nghiên cứu nghiêm chỉnh ở Nhật liên quan tới đề tài “xây đập gây hậu quả động đất”.

Giáo sư Seiji Otake, nguyên Giám đốc nghiên cứu về động đất của Trung Tâm Quốc Gia Phòng Tránh Thiên Tai Nhật Bản đã đưa ra nhận định: “có tới 90 phần trăm xác suất là các hoạt động địa chấn gia tăng ở vùng có những con đập cao hơn 100 mét”. [1]

Đã có rất nhiều tường trình về các trận động đất do xây đập gây ra: cả ở vùng ôn đới với các quốc gia phát triển và ở vùng nhiệt đới với các nước đang phát triển.

Các nhà khoa học địa chất khảo sát những con đập lớn nhận thấy: sức nặng thường trực của khối nước khổng lồ trong hồ chứa đã gây ra tình trạng mất cân bằng địa chấn, gây đứt đoạn lớp địa tầng dưới đáy và làm vỡ cấu trúc toàn con đập – người ta gọi đó là các trận “ĐỘNG ĐẤT DO HỒ CHỨA (reservoir triggerred seismicity)”.

Đã có những trận động đất gây ra do hồ chứa làm chấn động dư luận thế giới. Như khi hồ chứa Đập Aswan High (Ai Cập) lấy đầy nước, thì sau đó các trận động đất M4.7 (3/1982), M4.3 (2/1983) đã xảy ra trên vùng đất mà trước năm 1980 chưa hề có ghi nhận một cơn địa chấn nào.

Tại Trung Quốc, gần tỉnh Quảng Đông, có con đập Tân Phong Giang (Xinfengjian) cấu trúc giống đập Aswan đã bị một cơn địa chấn M6.1 vào năm 1961.

Các trận động đất khác do hồ chứa cũng đã xảy ra với con đập Koina (Ấn Độ): M5.5 (9/1967), M6.3 (12/1967) làm nứt thành đập và khiến hơn 180 người chết.

HẠ LƯU SÔNG MEKONG YÊN TĨNH

Con đập lớn Pa Mong ở hạ lưu sông Mekong (Lower Mekong Basin) tuy chỉ mới hình thành trên dự án, song các chuyên gia Ủy Ban Sông Mekong (Mekong River Committee, 1957), tiền thân của Ủy Hội Sông Mekong (Mekong River Commission, 1995) hiện nay, đã hết sức thận trọng nghiên cứu về hậu quả có thể gây động đất do dung lượng lớn của hồ chứa.

Các cuộc khảo sát địa chất cũng đã phát hiện ra các “đứt gãy”, trong số đó có đứt gãy Ban Ang (Ban Ang fault) chạy ngang dưới vùng xây đập Pa Mong, nhưng đó chỉ là những đứt gãy cũ và không còn hoạt động (inactive).

Cho tới nay, chưa có một cơn địa chấn nào được ghi nhận nơi dự trù xây con đập Pa Mong.

[Tưởng cũng nên nói qua về Dự án Đập Pa Mong. Đó là con đập lớn trên dòng chính sông Mekong, giữa biên giới Thái – Lào, trong hệ thống đập ở hạ lưu sông Mekong, với hồ chứa dài hơn 300 km, sẽ dìm sâu trong đáy nước đất đai nhà cửa của khoảng 60 ngàn cư dân, nhưng sẽ cung cấp nguồn điện trên 2.000 MW, cải thiện thủy lộ giao thông, tạo sức bật phát triển kinh tế cho toàn vùng đông bắc Thái Lan và Lào].

Cho dù có một số suối nước nóng ở hạ lưu Mekong nhưng hầu như đã không có hoạt động địa chấn nào trên vùng đất này. [1]

THƯỢNG LƯU SÔNG MEKONG DAO ĐỘNG

Thượng lưu sông Mekong là vùng nhiều núi lửa và rất thường xảy ra những cơn động đất, như gần rặng Arakan Bắc Miến Điện – nơi có các ngọn núi lửa Pu Fai Yai và Pu Fai Noi cao hơn cao nguyên Muang Hongsawadi từ 60 tới 90 mét.

Vào năm 1990, một trận động đất M6 đã xảy ra gần nơi xây đập Tiểu Loan (Xiaowan) trên dòng chính sông Lan Thương.

[Con đập Mẹ Tiểu Loan vĩ đại được khởi công tháng 04/2001 và mới hoàn tất tháng 08/2009, chỉ đứng thứ hai sau con đập Tam Hợp (Three Gorges Dam) lớn nhất thế giới trên sông Dương Tử. Đập Tiểu Loan với công suất 4,200 MW là con đập cao nhất thế giới – 292 mét, tương đương với tòa nhà chọc trời cao 100 tầng – với dung lượng hồ chứa lên tới 15 tỉ mét khối nước lấy từ con sông Mekong, dự trù bắt đầu hoạt động từ năm 2010 và đạt toàn công suất năm 2013, sẽ cung cấp điện cho tỉnh Quảng Đông và các tỉnh cận duyên Trung Quốc].

Hiroshi Hori là một chuyên gia uy tín về sông Mekong, từng làm việc cho Liên Hiệp Quốc trong Ủy Ban Sông Mekong có trụ sở ở Bangkok trong những năm 60 của thế kỷ trước (1964-1969), đặc trách Kế Hoạch Lưu Vực Sông Mekong (Indicative Mekong River Basin Plan).

Sau đó ông giữ chức vụ tham vấn cho Ngân hàng Phát Triển Á Châu (ADB – Asian Development Bank), đại diện cho Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc (UNDP – United ations Development Plan) ở New York. Đồng thời ông cũng là Chủ tịch Ủy Ban Nghiên Cứu Sông Mekong của Cơ Quan Hợp Tác Quốc Tế Nhật bản (JICA – Japan International Cooperation Agency).

Ông là tác giả của nhiều bài nghiên cứu kinh điển và các cuốn sách như “Technology Society, Pergamon Press 1990”, “Conflicts and Opportunities Concerning Development and the Environment in the Mekong Basin, IWRA 1998”.

Riêng trong cuốn sách “The Mekong: Environment and Development” [United Nations University Press, Tokyo 2000]. Hiroshi Hiro đã đưa ra nhận xét:

Thượng lưu sông Mekong là vùng động đất, với những chuyển động địa chấn đáng kể nên người ta có lý do để sợ rằng động đất sẽ xảy ra khi xây những con đập ở thượng nguồn sông Mekong. [1]

ĐẶC TÍNH ĐỘNG ĐẤT DO ĐẬP GÂY RA

Có thể phân loại các trận động đất do xây đập gây ra như sau:

Sức nước hãm nén trong hồ chứa trên vùng động đất làm gia tăng những cơn địa chấn do áp suất khi hồ hoàn thành và thay đổi áp suất theo mực nước và dung lượng hồ khi hoạt động.

Động đất vẫn xảy ra khi hồ chứa được xây trên vùng chưa có động đất trước đó.

Động đất có thể xảy ra sau khi hồ chứa lấy đầy nước, với nhịp độ (frequency) và biên độ (magnitude) gia tăng theo thời gian.

THEO DÕI PHÁT HIỆN PHÒNG TRÁNH

Khi mà động đất do hồ chứa xảy ra tại các quốc gia kém phát triển – nơi nhà cửa không đạt tiêu chuẩn chống động đất, mức thiệt hại sẽ lớn hơn gấp bội so với ở các quốc gia phát triển. Điều này đã được thấy rõ qua những tổn thất rất lớn từ những trận động đất chưa phải là quá lớn ở hai tỉnh Vân Nam, Tứ Xuyên vùng Tây Nam Trung Quốc, khi so sánh với Nhật Bản.

Do đó việc theo dõi phát hiện và phòng tránh động đất do hồ chứa phải là mối ưu tiên hàng đầu của các kỹ sư xây đập. Trong ngân sách xây đập phải bao gồm cả ngân khoản để trang bị mạng lưới các trạm theo dõi động đất (network of seismological stations). Việc theo dõi phải thực hiện liên tục trong suốt quá trình xây đập hay ít ra cũng phải tiến hành trước khi bắt đầu lấy nước vào hồ chứa. [1]

Nhưng dù có thiết lập thêm các trạm theo dõi động đất sau khi đã xây đập thì cũng không có cách nào giúp tránh động đất, và khi động đất xảy ra, không có cách nào thực hiện kịp việc di tản hay xả nước an toàn, nếu không muốn nói còn làm gia tăng tổn thất. Do đó, ưu tiên phải là nghiên cứu địa chất mỗi địa điểm xây đập ngay từ lúc đầu, rồi sau đó mới xác lập phương án kiến trúc của con đập với dung lượng hồ chứa và độ cao an toàn đối với các trận động đất xảy ra sau khi xây đập.

NHỮNG KHẢO SÁT MỚI NHẤT VỀ ĐỘNG ĐẤT DO XÂY ĐẬP

Theo Tiến sĩ T. Vladut thuộc nhóm Nghiên Cứu Môi Sinh Thủy Học Canada (Hydro Environmental Research Group) [1993] thì đã có hơn 2.000 bài viết về động đất gây ra do các con đập và hồ chứa.

Khảo duyệt tất cả các công trình nghiên cứu ấy, Vladut đã đi tới kết luận:

1. Từ thập niên 1930 [1932] người ta bắt đầu biết tới về mối liên hệ động đất với con đập Qued Fodda ở Algeria. Sang thập niên 1940 [1945] người ta đã lại quan tâm hơn tới mối liên hệ giữa độ sâu của hồ chứa con đập Hoover ở Mỹ với các trận động đất xảy ra sau đó.

2. Từ năm 1932, trong số hơn 120 con đập trên thế giới, người ta ghi nhận được những trận động đất xảy ra hoặc do nước hãm nén trong hồ chứa (water impoundment), hoặc khi hồ chứa hoạt động (reservoir operation).

3. Có nhiều khả năng động đất xảy ra nơi con đập cao hơn 100 mét hoặc khi dung lượng hồ chứa lớn hơn 1 x 109 m3 .

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CHUỖI ĐẬP VÂN NAM

Các dự án khai thác sông Mekong của Trung Quốc đã có từ thập niên 70 của thế kỷ trước, trong thời kỳ còn bức màn sắt cô lập đất nước này với thế giới bên ngoài.

Kể từ khi Trung Quốc bắt đầu mở cửa, mãi tới năm 1989 người ta chỉ mới được biết sơ về các dự án thủy điện Vân Nam qua một cuốn sách duy nhất của Vân Nam Nhân Dân Thư Xã, ấn bản tiếng Trung, dày 608 trang, nhan đề “Lan Thương Giang: Tiểu Thái Dương”, gồm 45 bài viết về các đề tài khác nhau, nhưng tựu trung chỉ đề cập tới những lợi lộc về thủy điện và nguồn nước của chuỗi 8 con đập bậc thềm trên sông Mekong tỉnh Vân Nam, với tổng số công suất lên tới 15.400 Megawatt, tổn phí dự trù là 7,7 tỉ đola Mỹ. [4]

Tuy đã có kế hoạch rất hấp dẫn khai thác sông Mekong rất sớm (từ những năm 70 của thế kỷ trước), nhưng vì “thiếu ngân sách” nên mãi tới năm 1980 con đập Mạn Loan (Manwan) đầu tiên cao 99 mét, với bức tường thành cao 35 tầng mới được khởi công và 13 năm sau (1993) thì xây xong. Ngay sau đó cảnh thiếu điện tối tăm của Vân Nam và thủ phủ Côn Minh đã trở thành quá khứ. Khi hoàn tất chuỗi đập Vân Nam này, Trung Quốc sẽ dư khả năng điện khí hóa hoàn toàn các tỉnh phía nam và phía đông cận duyên của Trung Hoa.

Cuốn sách cũng đề cập tới tiềm năng sông Mekong như một thủy lộ để đi về phương nam.

Nhưng điều đáng nói là cả cuốn sách không có bài viết nào nghiên cứu về hậu quả “có thể chấp nhận được hay không” của chuỗi các con đập ấy đối với 5 nước vùng hạ lưu là Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Việt Nam.

Trước nay, Trung Quốc luôn luôn giấu nhẹm các kế hoạch chiến lược khai thác sông Mekong của họ như một thứ bí mật quân sự.

Lê Quang Minh, nguyên Phó Viện trưởng Đại học Cần Thơ ở đồng bằng sông Cửu Long đã phải than thở: “Thật khó để có được thông tin từ phía Trung Quốc. Điều ấy khiến chúng tôi thật sự lo ngại”. [3]

Bây giờ đã là năm 2009, tưởng cũng nên cập nhật hóa những thông tin có được từ Trung Quốc. Theo tài liệu chính thức của Tỉnh ủy Vân Nam, thì chuỗi đập trên sông Lan Thương không phải chỉ có TÁM mà đã lên tới MƯỜI BỐN con đập trên dòng chính khúc thượng nguồn sông Mekong, chưa kể vô số những con đập ở phụ lưu. [1]

Tên 14 con đập theo thứ tự từ bắc xuống nam là:

1/ Liutongsiang2/ Jiabi
3/ Wunenglong4/ Tuoba
5/ Huangdeng6/ Tiemenkan
7/ Guongguoqio8/ Xiaowan (Tiểu Loan) – hoàn tất 2009
9/ Manwan (Mạn Loan) – hoàn tất 199310/ Daichaosan (Đại Chiếu Sơn) – hoàn tất 2003
11/ Nuozhado12/ Jinghong (Cảnh Hồng) – hoàn tất 2007
13/ Gunlanba14/ Mengsong


14 con đập và dự án đập Vân Nam nằm ở vùng động đất thượng lưu sông Mekong:

11704


11703

ĐÂU LÀ TIÊU CHUẨN AN TOÀN CỦA CHUỖI ĐẬP VÂN NAM

Theo tiêu chuẩn của Tiến sĩ T. Vladut thì động đất có nhiều khả năng xảy ra nơi “các con đập cao hơn 100 mét” hoặc “hồ chứa có dung lượng lớn hơn 1 x 109 m3“.

Ít nhất SÁU trong MƯỜI BỐN con đập Vân Nam hoặc có chiều cao hoặc có dung lượng hồ chứa lớn hơn giới hạn an toàn của Vladut. [1]

Tên đập / Công Suất

Chiều cao (Mét)

Dung lượng hồ (Tỷ m3)

(1) Gongguoqiao / 750 MW

130

510

(2) Xiaowan / 4.200 MW

292

15.130

(3) Manwan / 1.500 MW

132

920

(4) Dachaosan / 1.350 MW

118

890

(5) Nuozhadu / 5.500 MW

260

22740

(6) Jinghong / 1.350 MW

107

1230

[Tài Liệu của Wang Shui, Giám Đốc Kế Hoạch Lan Thương Giang Vân Nam] [5]

Liệu đã có những công trình nghiên cứu khoa học nghiêm chỉnh nào của Trung Quốc về tình trạng địa chất dọc theo con sông Lan Thương (chiếm hơn nửa chiều dài Sông Mekong), là nơi đang mọc lên chuỗi 14 con đập khổng lồ Vân Nam?

Có rất nhiều lý do để tin là không, bởi vì “mỗi con đập có những đặc tính địa chất duy nhất của nó, mà để hiểu biết cho tường tận những đặc tính ấy thì tốn rất nhiều thời gian và tổn phí lên tới nhiều triệu đôla cho những cuộc khảo sát [2]”, trong khi Trung Quốc không chỉ thiếu tiền mà còn vội vã đạt chỉ tiêu kế hoạch khai thác thủy điện chiến lược của họ.

Hoặc giả nếu có cái gọi là công trình nghiên cứu địa chất trên giấy tờ thì chúng ta cũng có thể biết trước rằng có “những dữ kiện địa chất dù biết trước là bất lợi cũng sẽ bị làm ngơ hay bỏ qua”.

Theo một nghiên cứu năm 1990 của Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) thì trong số 49 dự án xây đập thủy điện, có hơn 3/4 số đập gặp phải những “vấn đề về địa chất không tiên liệu được (unexpected geological problems)”. Và cuộc khảo sát ấy đã đưa tới kết luận khá bi quan rằng đối với các con đập thủy điện “nếu không gặp các vấn đề trở ngại về địa chất thì phải được coi đó như một ngoại lệ chứ không phải là sự kiện bình thường”. [2]

Trước những khiếm khuyết và bất trắc ấy, liệu trên đồ án mỗi con đập Vân Nam Trung Quốc có bao gồm “thiết kế mạng lưới các trạm theo dõi động đất” để liên tục ghi nhận các dao động địa chấn trong suốt quá trình xây đập, hay ít ra cũng phải được thiết kế đưa vào hoạt động trước khi bắt đầu lấy nước vào trong mỗi hồ chứa hay không?

An toàn của các con đập, liệu có bao giờ là mối ưu tư của các “Công trình sư Đại Hán” khi hình thành dự án Chuỗi 14 Con Đập Bậc Thềm Vân Nam?

Đã đến lúc nước lớn Trung Quốc có lương tri phải tỏ ra có trách nhiệm với chính cư dân của họ và hàng trăm triệu cư dân của các quốc gia ở hạ lưu bằng cách công khai hóa những kế hoạch xây đập của họ.

Đành rằng chẳng có cách nào để ngăn Trung Quốc không tiến hành giấc mơ điện khí hóa vĩ đại của họ, nhưng ở một chừng mực nào đó thì những khiếm khuyết và thiếu an toàn trong mỗi dự án phải được biết tới, theo dõi và bổ sung.

Điều đó chỉ có được khi Trung Quốc chịu công khai hóa kế hoạch khai thác sông Mekong của họ.

Không phải là hư cấu để không nhìn thấy những hồ chứa nước khổng lồ của chuỗi đập Vân Nam có thể là thứ vũ khí môi sinh chiến lược kinh hãi mà Bắc Kinh có thể một ngày nào đó nghĩ tới việc sử dụng, để “gây đại hạn” hoặc gây ra “trận hồng thủy” có sức hủy hoại ghê gớm, mà khi cần sẽ cho một nước bướng bỉnh ở hạ lưu – như Việt Nam – “một bài học, một bài học để đời”.

Và cũng lại không hoàn toàn là hư cấu khi nghĩ tới tình huống Trận Động Đất do các hồ chứa khổng lồ Vân Nam ở thượng lưu sông Mekong. Do sự kiêu căng, tham lam và thiển cận của con người không còn làm chủ được khoa học kỹ thuật của mình, sức tàn phá khủng khiếp của Cơn Hồng Thủy Vỡ Đập sẽ cuốn đi bao nhiêu thành phố và bao nhiêu vạn sinh linh của Vân Nam và của các quốc gia vùng hạ lưu?

Sắp qua đi thập niên đầu của của Thế kỷ 21, chuỗi 14 Con Đập Bậc Thềm Khổng Lồ Vân Nam sẽ là “lưỡi gươm Damoclès” buộc trên sợi chỉ mành thường trực treo trên đầu trên cổ cư dân của năm quốc gia vùng hạ lưu là Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Việt Nam.

Dù con đường còn lắm chông gai, nhưng việc phấn đấu để tiến tới một “Ủy Hội Sông Mekong Mở Rộng” bao gồm cả Trung Quốc và Miến Điện là bước tiên quyết để có một cơ quan điều hợp hữu hiệu cho toàn vùng trong kế hoạch vĩ mô “Phát Triển Bền Vững” nguồn tài nguyên phong phú của con sông Mekong.

TỪ CON ĐẬP ASWAN TỚI ĐẬP TIỂU LOAN

Với chấn động của hơn 160 tỉ mét khối nước từ con đập Aswan bất chợt bung qua khúc vỡ của hồ chứa cao hơn 100 mét, trong khoảnh khắc, lượng nước khổng lồ trong hồ chứa dài 500 cây số đồng loạt trút xuống. Thị trấn đầu tiên cách đó chưa đầy ba dặm bị ngay sức đập trời giáng khủng khiếp như sức tàn phá của một ngọn sóng thần.

Thế rồi bức tường thành nước cao hơn 30 mét ấy cứ lừng lững đi tới dìm ngập phố xá, ngập cả những tòa nhà cao mười tầng, băng qua và cuốn đi các vùng dân cư.

Ngày thứ sáu, con nước cuồng nộ ấy tới được thủ đô Le Caire bên đông ngạn con sông Nile, vẫn với nguyên sức mạnh của 15 mét nước cao…

Đó là scenario từ cuốn tiểu thuyết Aswan của nhà văn Đức Michael Heim, không phải chỉ là hư cấu, mà dựa trên những khảo sát cơ học vững chắc.

Mô tả chi tiết về khả năng một thảm họa vỡ đập Aswan bị cấm phổ biến vì giới quân sự Ai Cập lo sợ đó như gợi ý cho một âm mưu khủng bố; Thứ trưởng Bộ Thủy lợi Ai Cập đã mô tả thảm họa ấy “Giống như trận Hồng thủy kéo dài suốt 40 ngày đêm đã được ghi lại trong Thánh Kinh”…

Gần gũi với chúng ta hơn là bài học Trung Quốc, với một thảm họa có thật tại Hà Nam năm 1975. Nơi có hai con đập Bản Kiều (Banquiao) và Thạch Mãn Đàm (Shimantan) trên sông Hoài (sông Huai), một phụ lưu của sông Dương tử.

Đập Bản Kiều do Liên Xô xây dựng, được coi như một con đập sắt thép kiên cố có khả năng đứng vững với trận lụt ngàn năm. Nhưng chỉ với cơn mưa lũ lớn suốt hai ngày, mực nước trong đập đã ngập tới mức tối đa. Dù các ống thoát đã được mở ra, nhưng lại bị nghẽn bởi các chất lắng, và hậu quả là đập Bản Kiều bị vỡ. Năm triệu mét khối nước từ hồ chứa đổ ập xuống các thung lũng, cuốn phăng đi các làng mạc và thị trấn phía dưới, con đập sắt thép thứ hai cũng bị vỡ ngay sau đó…

Tổng cộng có 62 đập bị vỡ trong trận bão lụt năm 1975 làm thiệt mạng 230 ngàn người, nhưng nhà nước Trung Quốc đã dấu nhẹm thông tin này trong nhiều thập niên sau đó.

Không có gì bảo đảm rằng một thảm họa vỡ đập do động đất sẽ không thể xảy ra trên khúc thượng nguồn sông Mekong, khi mà ai cũng biết Vân Nam là vùng nhiều động đất.

Nếu sông Mekong là mạch sống của hàng trăm triệu cư dân, nước sông Mekong là máu của đất, thì mỗi con đập Vân Nam là một “gót chân Achilles” cho toàn vùng, và mối thảm họa do chính con người gây ra sẽ lớn hơn gấp bội so với tai ương từ thiên nhiên…

N.T.V

Vân Nam 09/2002 – California 09/2009

Chú thích:em>
(*) Lan Thương (Lancang): Tên của con sông Mekong trong địa phận Trung Quốc

Tư liệu tham khảo:

1/ Hiroshi Hori. The Mekong: Environment and Development. United Nations University Press, Tokyo 2000.
2/ Patrick McCully. Silenced Rivers: The Ecology and Politics of Large Dams. Zed Books, Ltd. London 1996.
3/ Shawn W. Crispin, Margot Cohen, Bertil Lintner. The mekong Choke Point. Far Eastern Economic Review, Oct 12, 2000.
4/ E.C Chapman, He Daming. Downstream Implications of China’s Dams on the Lancang Jiang and their Potential Significance for Greater Regional Cooperation, Basin-Wide. Workshop Proceedings, Melbourne Oct 12, 1996.
5/ Wang Shui. The Lancang Jiang basin: Steps Towards the Realisation of Sustainable Development. Worshop Proceedings, Melbourne Oct 12, 1996.
6/ Chinese environmentalists and scholars appeal for dam safety assessments in geologically unstable south-west China. Diyi Caijing Bao, June 12, 2008. [Probe International]

HO Mạng Bauxite Việt Nam biên tập

Mekong và chúng ta(11)

PHÁ GHỀNH THÁC/ MỞ RỘNG LÒNG SÔNG / HỦY HOẠI SINH CẢNH: NGUỒN CÁ SÔNG MEKONG ĐANG CHẾT DẦN

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long

LTS: Nói về những bước suy thoái của sông Mekong, người ta liên hệ ngay tới chuỗi 14 con đập thủy điện bậc thềm Vân Nam và sắp tới đây là 11 con đập hạ lưu. Nhưng không thể không kể tới những bước hủy hoại môi sinh khác đã và đang diễn ra trong toàn lưu vực sông Mekong như: đổi dòng lấy nước; phá rừng bừa bãi; dùng chất nổ tàn phá chỉ để mở rộng khai thông lòng sông cho các con tàu lớn Trung Quốc dễ dàng đi xuống phương nam. Bài viết của nhà văn Ngô Thế Vinh trong số báo này chủ yếu đề cập tới Dự án Phá đá trên 21 khúc ghềnh thác của sông Mekong. Để thấy rằng đó là một dự án liều lĩnh, tắc trách và cả vô trách nhiệm, đã khiến tờ báo Watershed số tháng 11/ 2002 phải đưa ra nhận định: “Họ chỉ căn cứ trên có hai ngày khảo sát thực địa...rồi đi tới kết luận rằng Dự án Phá đá khai thông ghềnh thác sẽ không có ảnh hưởng dài hạn nào trên nguồn cá và ngư nghiệp của cư dân sống hai bên bờ sông Mekong... Bằng chứng là đã không có sự lượng giá thực sự về những tiềm năng ảnh hưởng này.” Trước mắt thì quốc gia hưởng lợi nhất từ dự án này vẫn là Trung Quốc nhưng với cái giá rất đắt về môi sinh phải trả là 5 nước vùng Hạ lưu sông Mekong.

***


DỰ ÁN CẢI THIỆN THỦY LỘ THƯỢNG NGUỒN SÔNG MEKONG


Kế hoạch chính thức có tên là “Dự Án Cải Thiện Thủy Lộ Thượng Nguồn Sông Mekong / Navigation Channel Improvement Project on the Upper Mekong River” nhưng với cư dân địa phương thì đơn giản được gọi là: “Dự án phá ghềnh thác sông Mekong / Mekong rapids blasting project”.

Đây là dự án táo bạo dùng chất nổ / dynamite để phá những khối đá trên khúc sông Mekong chảy qua 21 đoạn ghềnh thác, với các cù lao và cồn bãi /shoals cùng với kế hoạch nạo vét để khai thông và mở rộng lòng sông Mekong từ Vân Nam xuống tới Miến Điện, Thái Lan và Lào.

Mục đích chính là giúp cho những con tàu trọng tải từ 500 tới 700 tấn chở đầy hàng hóa có thể dễ dàng di chuyển từ giang cảng Tư Mao / Simao Vân Nam Trung Quốc xuống Chiang Khong, Chang Sean Thái Lan tới tận Luang Prabang và Vạn Tượng thủ đô nước Lào. Sau đó cũng chính những con tàu ấy sẽ chở đầy nguyên vật liệu và cả dầu thô đi ngược dòng sông Mekong lên Vân Nam.

Dự án đã được ký kết vào tháng 04 năm 2001 giữa 4 nước Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan và Lào và công trình này sẽ do mỗi nước tự thực hiện trên khúc sông chảy qua lãnh thổ mình. Điều đáng nói là Cam Bốt và Việt Nam là hai quốc gia cuối nguồn sẽ trực tiếp và lâu dài chịu ảnh hưởng do dự án ấy thì hoàn toàn không được đếm xỉa tới.

Với ngân khoản tài trợ chủ yếu là từ Ngân Hàng Phát Triển Á Châu (ADB/ Asian Development Bank) cho Chương Trình Hợp Tác Kinh Tế Lưu Vực Lớn Sông Mekong (Greater Mekong Subregion / GMS), và kế hoạch Phá đá / Phá ghềnh thác là một phần trong Chương trình mở “Hành lang Kinh tế Bắc-Nam Lưu Vực Lớn Sông Mekong / GMS North-South Economic Corridor Flagship Program” đã được chuẩn thuận trong Hội nghị Thượng đỉnh GMS tại Nam Vang vào ngày 3 tháng 11, 2002.

Theo mô hình Dự án thì có hàng trăm ngàn tấn đá sau khi bị chất nổ phá vỡ từ các đoạn ghềnh thác sẽ được các con tàu vét / backhoe dồn xuống những hố sâu dưới lòng sông – mà ai cũng biết “những vũng sâu này là nơi trú ẩn có tầm quan trọng sống còn đối với vô số loài cá trong suốt mùa Khô” và cũng là nơi lưới cá của cư dân địa phương. Lấp hết các vũng sông sâu này bằng những khối đá vụn sẽ gây ảnh hưởng hủy diệt ra sao trên cá và đời sống của ngư dân là điều không được Nhóm Lượng Giá Ảnh Hưởng Môi Sinh (EIA/ Environmental Impact Assessment) quan tâm tới.

Từ một con sông Mekong vốn được coi là khá nguyên vẹn, ít bị tận dụng khai thác so với các con sông khác của thế giới, nay ngoài ảnh hưởng của một chuỗi những con đập thủy điện khổng lồ Vân Nam không ngừng xây thêm, cũng vẫn Trung Quốc đã lại có thêm kế hoạch phá đá, phá các khúc sông ghềnh thác, dĩ nhiên sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng trên sự cân bằng thủy học, khiến dòng nước sẽ chảy nhanh và siết hơn, gây sụp lở bờ sông cùng phá hủy các loại hoa màu trồng ven sông.

Vào tháng Tư năm 2002, Phân bộ Ngư nghiệp Ủy hội Sông Mekong / MRC (gồm 4 nước hạ lưu Thái Lan Lào Cam Bốt và Việt Nam, riêng Trung Quốc thì từ chối tham gia) đã phổ biến một tài liệu nhan đề: “Vũng sâu là sinh cảnh / habitats của cá trong Lưu vực sông Mekong trong mùa Khô.” Theo tài liệu này thì người ta tin rằng giống cá Pla beuk, loại cá bông lau khổng lồ _ Pangasianodon gigas sống dưới những vũng sâu của sông Mekong trong mùa Khô. Ngư dân Lào tỉnh Xayabouri cho biết nơi vũng sâu gần ngôi làng Bang Muangliap là nơi sinh sống của giống cá Pla beuk trong mùa Khô.” Cả ngư dân tỉnh Bokeo gần ngã ba biên giới Thái Lào Miến Điện cũng tin rằng những con cá Pla beuk rất hiếm hoi mà họ đánh được là từ Xayabouri.” [H.1]

Kế hoạch phá đá không chỉ là mối nguy cơ diệt chủng đối với cá Pla beuk hiếm quý, mà còn hủy hoại sinh cảnh, hủy diệt rộng rãi các loài cá khác và ngư nghiệp không chỉ giới hạn ở khúc sông thượng nguồn mà còn có ảnh hưởng “tiêu cực dây chuyền” trên nguồn cá vốn rất phong phú của Biển Hồ và hai con sông Tiền sông Hậu và toàn hệ thống kinh rạch nơi Đồng Bằng Sông Cửu Long.

THIẾU NGHIÊN CỨU TÍNH KHẢ THI CỦA DỰ ÁN

Từ Bangkok, chỉ vài tuần lễ sau ngày thành lập, Bộ Tài Nguyên Thiên Nhiên và Môi Trường (MNRE/ Ministry of Natural Resources and Environment) Thái Lan đã vội vàng can dự vào một dự án gây rất nhiều tranh cãi và cũng rất thiếu sót. Theo tường trình của tập san Watershed, cơ quan ngôn luận lâu năm của tổ chức TERRA [Towards Ecological Recovery and Regional Alliance] (7) thì vào giữa tháng 11 năm 2001 giám đốc Trung Tâm Phòng Chống Khủng Hoảng Nước thuộc MNRE là Sophat Tovichakchaikul đã công bố “Dự án phá ghềnh thác sông Mekong” sẽ được triển khai do kết quả Lượng giá Ảnh hưởng Môi sinh (EIA) được xem là không đáng kể.

Trên thực tế thì nhóm nghiên cứu EIA này “CHỈ TRONG HAI NGÀY 18 và 29 tháng 4, họ tới thăm chớp nhoáng vài đoạn sông thượng nguồn gồm 10 ghềnh thác và một cồn gọi là để ‘thu thập các dữ kiện thủy học’ để rồi đi ngay tới kết luận là Dự án Phá Đá sẽ không gây một tác hại dài hạn nào trên cá và nền ngư nghiệp của cư dân sống dọc theo hai bên sông. Có thể nói đây là một lượng giá rất tắc trách thiếu tính nghiên cứu và thiếu sự hiểu biết nhất về toàn hệ sinh thái của con sông Mekong.

Theo tiến sĩ Chris Cocklin và Monique Hain thuộc Viện Môi Trường Monash (Đại Học Monash Úc), thì Lượng Giá Ảnh Hưởng Môi Sinh của Dự án Cải thiện Thủy lộ Thượng nguồn sông Mekong “thực chất là thiếu sót / substantively inadequate” và nhiều điểm “cơ bản là sai trái / fundamentally flawed.” (4)

- THIẾU SÓT vì không dựa trên đánh giá toàn thể và không có phần lượng định ảnh hưởng dài hạn của dự án mà phần tối quan trọng là ảnh hưởng trên hệ thủy học / hydrology, hệ sinh thái / ecology của con sông và cả ảnh hưởng do gia tăng số lượng tàu bè lưu thông trên dòng sông ấy. Một ví dụ về hệ quả dây chuyền do cải thiện thủy lộ, sẽ đưa tới gia tăng trao đổi hàng hóa, tạo thuận cho kỹ nghệ phát triển và hậu quả là gây thêm ô nhiễm. Ảnh hưởng dài hạn ấy ra sao với sức khỏe của cư dân các quốc gia cuối nguồn là hoàn toàn không được quan tâm tới.

- SAI TRÁI vì các phân tích chỉ dựa trên sự phỏng đoán / speculation, với kết luận chủ quan và hoàn toàn thiếu những bước nghiên cứu có thực chất để rồi vẫn đi tới khẳng định là: “Dự án sẽ có ảnh hưởng tích cực về kinh tế trong các bước phát triển bền vững của Lưu vực sông Mekong / Lancang – Mekong River drainaige area.” Đó chỉ là một kết luận vu vơ mà không đưa ra được các dữ kiện hay phân tích thuyết phục nào.

Giáo sư R.M. McDowall, thuộc Viện Quốc Gia Nghiên Cứu Nước và Không khí Tân Tây Lan cũng đưa ra nhận định nghiêm khắc: “Đọc tường trình EIA rõ ràng là không cho thấy có chút cố gắng nào để xác định những ảnh hưởng trên nguồn cá và hệ sinh thái do kế hoạch mở rộng lòng sông. Nói một cách đơn giản, lượng giá EIA là hoàn toàn thiếu sót.” (7)

HẬU QUẢ NHÃN TIỀN NGAY TỪ BƯỚC ĐẦU TRIỂN KHAI

Ngay ở giai đoạn đầu thực hiện kế hoạch khai thông thủy lộ sông Mekong, hậu quả tức thời là đã có một số tác hại môi sinh giáng ngay trên đầu các cư dân sống trong lưu vực. Ngay trong Mùa Mưa năm 2002, tại quận Chiang Khong tỉnh Chang Rai Thái Lan có nhiều khúc bờ sông vốn bền vững trong bao năm, nay bị sụp lở . Chỉ riêng làng Pak Ing đã mất đi một mẫu đất do nạn xói mòn này. Ba ngôi làng kế cận cũng mất 9 mẫu đất cùng với nhiều căn nhà bị trôi xuống sông. Phía tả ngạn bên Lào, hơn 100 gia đình thuộc làng Don Sawan tỉnh Bokeo phải di tản vì nguy cơ sụp lở càng lan rộng. Niwat Roykaek thuộc Nhóm Bảo Tồn tỉnh Chiang Khong nhận định: “Dân trong vùng sống bằng cá lưới từ sông Mekong và cả sống bằng hoa màu trồng dọc theo hai bên bờ sông ấy. Con sông là mạch sống của họ nên cần phải khảo sát thật kỹ càng trước khi khai thác nó.” (6)

Các nhà hoạt động môi sinh thuộc các bang bắc Miến Điện đã yêu cầu ngưng ngay kế hoạch phá đá trên khúc sông Mekong dài 234 km chảy dọc theo biên giới phía đông bắc Miến vì khúc sông này vốn là nguồn sống của các sắc tộc Lahu, Shan, Loi La và En. (2) Và cho dù đang phải sống dưới chế độ Độc tài Quân phiệt Miến, cũng đã có 52 tổ chức phi chính phủ [NGO/ Non Governmental Organizations] lên tiếng phản đối Dự án Phá Ghềnh Thác sông Mekong do những tác hại không thể chấp nhận được đối với ngư nghiệp, hệ sinh thái của con sông như một toàn thể và ảnh hưởng trên cư dân sống dọc con sông. Người dân Miến Điện sống trong lưu vực đòi hỏi phải được có ý kiến và có quyền tham dự vào quyết định liên quan tới đất đai và nguồn tài nguyên thiên nhiên như mạch sống của họ. Họ yêu cầu phải ngưng ngay dự án phá đá khai thông mở rộng dòng sông cho tới khi nào hoàn tất được các bước lượng giá đúng mức về “hậu quả môi sinh và xã hội” trên các cộng đồng cư dân sống trong lưu vực(3). Giữa hai tháng 03 và 04, 2002 hai khúc ghềnh đá Tang Ao và Tang Luang đã bị triệt hạ và dân chúng Miến Điện sống trong khu vực thì hoàn toàn không được thông báo. Họ chỉ được biết khi thấy vô số cá bị chết, nồi dềnh, trôi giạt và thối rữa không còn ăn được. Ngoài cá, dân địa phương còn sống bằng nguồn lợi tức của rong tảo (riverweed / kai) mọc trên các ghềnh đá và nay thì cũng không còn nữa. Vẫn theo kế hoạch trên, thì sẽ có thêm 16 đoạn ghềnh thác nữa thuộc khu vực bang Shan Bắc Miến Điện và Lào sẽ bị phá hủy vào đầu năm tới. (2)

Tưởng cũng nên nhắc tới ở đây một khía cạnh khá mỉa mai là không phải do chính quyền Hà Nội hay Nam Vang, nhưng chính mấy chục tổ chức nhỏ bé của cư dân Miến Điện chưa có tự do ấy lại lên tiếng đòi hỏi quyền sống cho hai nước láng giềng rất xa họ: họ đòi hỏi rằng “Kế hoạch phải có được sự đồng thuận của tất cả các quốc gia nơi có con sông Mekong chảy qua bao gồm cả Cam Bốt và Việt Nam”.

TÁC HẠI TẦM XA TRÊN CAM BỐT VÀ VIỆT NAM

Dự án phá đá, phá các khúc ghềnh thác có những hậu quả tích cực và tiêu cực ra sao trước hết là đối với 4 quốc gia thượng nguồn (Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan và Lào) rồi sau đó là 2 nước hạ nguồn (Cam Bốt và Việt Nam) là những vấn nạn chưa có lời giải đáp.

- ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC: do cải thiện giao thông đường sông không chỉ giúp gia tăng trao đổi hàng hóa mà còn tạo thuận cho việc khai thác các nguồn tài nguyên (về rừng về hầm mỏ) và cả mở mang du lịch góp phần phát triển kinh tế trong lưu vực. “Nhưng câu hỏi quan trọng nhất được đặt ra là những lợi lộc kinh tế ấy (và cả cái giá phải trả) sẽ được phân phối ra sao đối với các quốc gia trong lưu vực?” (4) Trước mắt thì quốc gia hưởng lợi nhất vẫn là Trung Quốc : hàng hóa Trung quốc sẽ tràn ngập đổ xuống các tiểu quốc phương Nam, cũng những con tàu 700 tấn ấy sẽ chuyên trở về Trung Quốc những tài nguyên thiên nhiên từ Miến Điện Lào Thái Lan để phục vụ cho nền kỹ nghệ đang rất phát triển do có thêm dồi dào nguồn thủy điện từ những con đập bậc thềm khổng lồ Vân Nam cũng từ nguồn nước con sông Mekong.

- ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC: Trung Quốc là nước cao nhất trên thượng nguồn sẽ rất ít bị ảnh hưởng do kế hoạch phá đá, phá các khúc ghềnh thác trên sông Mekong. Nhưng kế hoạch đó đã có tác hại ngay trước mắt trên sinh cảnh và đời sống cư dân của các nước hạ nguồn như Miến Điện, Thái Lan và Lào, dĩ nhiên còn có ảnh hưởng dây chuyền trên đời sống cư dân của hai nước ở dưới xa là Cam Bốt và Việt Nam. Sự thay đổi đột ngột nhịp độ dòng chảy thiên nhiên của con sông Mekong gây hậu quả xói mòn và cả sụp lở bờ sông, hủy diệt nguồn cá như nguồn protein chính của cư dân sống trong lưu vực. Đứng trước những tai ương có thể xảy ra, đến bao giờ thì người dân Việt Nam và Cam Bốt mới được thông báo một cách đầy đủ và cả quyền được tham gia ý kiến ?

NHỮNG ĐỢT THẢ CÁ GIỐNG TRÊN SÔNG MEKONG

Tháng 12 năm 2000, trong chuyến đi thăm khúc sông Mekong trên đất Lào, đến thăm đập Nam Ngum, con đập thủy điện đầu tiên trên phụ lưu sông Mekong, được hoàn tất năm 1972, rất sớm và ngay giữa cuộc chiến tranh Việt Nam. Đập Nam Ngum trải rộng trên 250 km2, lớn hơn 1/3 diện tích đảo quốc Singapore. Cá trên sông Nam Ngum và trong hồ chứa là nguồn protein của nhiều ngàn cư dân sống quanh vùng, nhưng cá thì ngày càng ít đi, khiến cho công chúa Chakri Sirindhorn từ Thái Lan đã tới hồ làm lễ thả cá giống Pla beuk, loại cá catfish rất lớn chỉ có trên sông Mekong. Nhưng cho đến những năm sau, hình như chưa ngư dân Lào nào lưới được một con cá Pla beuk trong hồ. Do là loại cá của sông sâu với dòng chảy, nay đem thả vào một sinh cảnh hoàn toàn khác, liệu có được bao nhiêu con cá Pla Beuk trong số đó còn sống sót.

Ngày 29 tháng 06 năm 2005, Thủ tướng Hunsen đã tới dự buổi lễ thả cá giống vào một hồ ở phía đông Cam Bốt; ông đã tỏ ra thỏa mãn với tình hình khai thác con sông Mekong của Trung Quốc, theo ông sẽ chẳng có vấn đề gì phải quan tâm. Ông Hunsen đã công khai lên tiếng ủng hộ Bắc Kinh, gần như vô điều kiện đối với kế hoạch khai thác sông Mekong, cho dù điều ấy đi ngược lại ý kiến quan ngại gần như báo động của các chuyên gia bảo về môi sinh [AFP, 6/29/05]. Chỉ vì sự thiển cận và chút quyền lợi rất ngắn hạn [Bắc Kinh cho Nam Vang vay 30 triệu Mỹ kim, cộng thêm với 70 triệu Mỹ kim nữa để cải thiện hệ thống quốc lộ], Hunsen đã dễ dàng hy sinh một dòng sông và một Biển Hồ như mạch sống và trái tim của đất nước Cam Bốt. Ai cũng biết rằng trái tim Biển Hồ chỉ còn đập khi sông Mekong còn đủ nước chảy ngược vào Biển Hồ trong mùa lũ, như một bảo đảm cho nguồn cá và vựa lúa của người dân xứ Chùa Tháp. Và chưa hề có bảo đảm nào cho một tương lai như vậy. (9)

Ngày 22 tháng 04 năm 2009: trong chương trình gây cá giống của hai nước Lào Thái với sự hợp tác của Ủy Hội Sông Mekong, 200,000 cá giống – loại cá chép vàng đã được thả xuống sông Mekong trong nỗ lực bảo tồn những giống cá lớn đang có nguy cơ bị diệt chủng như: [a] cá Pla beuk [Mekong Giant Catfish/ Pangasianodon gigas], [b] cá ngát khổng lồ [Giant Barb] [c] cá chép vàng [Julien’s Golden Carp/ Probarbus jullieni]. Giống cá chép vàng này, tăng trưởng nhanh mỗi con có thể lớn tới 70kg và dài hơn 1.65m. Trong buổi lễ thả cá phía tả ngạn bên Lào, Chủ tịch Ủy Hội Sông Mekong Jeremy Bird đã phát biểu: “Cá là nguồn protein hết sức quan trọng cho cư dân sống dọc theo ven sông. Cho thả cá giống vào hệ thống sông rạch sẽ giúp bảo tồn những chủng loại cá đang bị lâm nguy, với ý hướng bảo vệ sự “đa dạng sinh học dưới nước / aquatic biodiversity”, bảo đảm nguồn cá hôm nay và cho các thế hệ tương lai.”

Sáng kiến thả cá giống có bước khởi đầu từ Bộ Ngư nghiệp Thái Lan. Kỹ thuật gây giống cá chép vàng này bắt đầu từ năm 2000 và đã được thử nghiệm từ nhiều nơi trong lưu vực. Đây là một trong những giống cá chép nước ngọt lớn trong vùng Đông Nam Á và cũng là loại di ngư bơi rất xa lên thượng nguồn, từ Kompong Cham Cam Bốt tới Chiang Khong đông bắc Thái Lan, lên xa tới tận Nam Tha bắc Lào để đẻ trứng. (8) Rồi không thể không nghĩ ngay tới Dự án 11 con đập hạ lưu khi hoàn thành sẽ là “những nút chặn triệt sản” đối với các đoàn di ngư này.

Rõ ràng khó còn “những vùng sinh cảnh/ habitats, có thể sống được” trên sông Mekong cho các loài cá, các loài động vật dưới nước nói chung. Khi mà hậu quả của kế hoạch phá đá, phá những khúc sông ghềnh thác đã làm thay đổi đột ngột nhịp độ dòng chảy thiên nhiên của con sông Mekong gây hậu quả xói mòn và cả sụp lở bờ sông, “ngưỡng tử vong” của sinh cảnh ấy sẽ không xa, sẽ hủy diệt nguồn cá – giết luôn cả hàng trăm ngàn những con cá nhỏ mong manh liên tục được thả xuống sông với hy vọng duy trì nguồn protein cho cư dân sống trong lưu vực; bởi vì nhiều giống cá cần các khúc ghềnh thác và vũng sâu để làm tổ và một chủng loại như cá Pla beuk, cá chép vàng… là loại di ngư cần bơi ngược dòng lên khúc sông thượng nguồn để đẻ trứng.

Rồi phải kể đến sự thay đổi phẩm chất nước của con sông Mekong không phải chỉ với cá, mà cũng là nguồn nước uống của cư dân ven sông, nếu cứ càng ngày càng ô nhiễm do đô thị hóa kỹ nghệ hóa sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe và gây bệnh tật trên con người ra sao?

Riêng với Việt Nam, ai cũng biết nguồn cá nơi Đồng Bằng Sông Cửu Long trước 1975 phong phú là thế nào thì nay đã cạn kiệt, lại thêm nguồn cá ngoài đại dương gần đây cũng bị sút giảm nghiêm trọng do sự khống chế của Trung Quốc đối với các đoàn tàu đánh cá của Việt Nam ngoài Biển Đông, và nay chỉ còn trông vào nguồn cá kỹ nghệ cá nuôi, cá lồng. Và hình như cũng chưa nghe có một kế hoạch thả cá giống nào như các quốc gia Thái, Lào, Cam Bốt xuống hệ thống sông rạch của ĐBSCL, không biết lý do tại sao?

SÔNG MEKONG ĐANG CHẾT DẦN

Người dân Việt Nam trong nước nói chung, và cư dân Đồng Bằng Sông Cửu Long nói riêng, rất ít được thông tin về các bước khai thác hủy hoại con sông Mekong trên thượng nguồn. Tin tức báo chí Việt Nam vẫn đề cập tới các tai nạn xụp lở gia tăng nơi hai bờ sông Tiền sông Hậu nơi ĐBSCL, nhưng có lẽ rất ít ai biết tới kế hoạch phá đá phá ghềnh thác mở rộng lòng sông của Trung Quốc cùng với ảnh hưởng xa nơi hạ nguồn ra sao. Điều ấy một lần nữa nói lên sự cần thiết về một Phân Khoa Sông Mekong cho Đại Học Cần Thơ như một “think tank”, một ngọn hải đăng dẫn đường cho ĐBSCL.

Sau sự kiện kết nghĩa giữa hai dòng sông Mekong và Mississippi vào tháng 07, 2009, qua thư trao đổi giữa tác giả bài viết này và Chủ tịch Ủy Hội Sông Mississippi / Trung Tướng Walsh, ông cho biết vào ngày 20 tháng 08, 2009 vừa qua, Ủy Hội Sông Mississippi đã ký một văn bản có tên là: America’s Watershed: A 200-year Vision / An Intergenerational Commitment [Viễn Kiến 200 năm cho Lưu Vực Sông Hoa Kỳ, Một Cam-Kết-Liên-Thế-Hệ]. Rồi nhìn lại Việt Nam, nếu chúng ta không có được viễn kiến 200 năm thì ít ra cũng cần có tầm nhìn xa 100 năm cho con sông Mekong và ĐBSCL.

Đã có ý kiến cho rằng, việc thiết lập Phân khoa Sông Mekong nơi Đại học Cần Thơ là một công việc rất khó khăn, nhưng làm sao mà không khó khi phải đi tìm câu trả lời cho vấn nạn: làm thế nào để “phát triển bền vững” nhưng vẫn bảo vệ được nguồn tài nguyên con sông Mekong và ĐBSCL cho các thế hệ mai sau. “Bước đầu là khó: nhưng cuộc hành trình ngàn dặm bao giờ cũng phải khởi đầu bằng một bước đầu tiên”. Hầu như chúng ta ai cũng đã từng nghe câu châm ngôn ấy.

Với kỹ thuật cao của thế kỷ 21, với lòng tham vô hạn của con người, chẳng khó khăn gì để giết chết một dòng sông, hủy diệt cả một hệ sinh thái phong phú nhưng cũng rất là mong manh của hành tinh này. Trong một tương lai không xa, con “Sông Danube của Châu Á” ấy sẽ chỉ còn là một con sông chết, chỉ để sản xuất thủy điện và dùng làm thủy lộ giao thông và có thể tệ hại hơn nữa còn là cống rãnh để đổ xuống các chất phế thải kỹ nghệ từ tỉnh Vân Nam Trung Quốc.


NGÔ THẾ VINH


Nam Ngum 02/ 2003 – California 09/ 2009

THAM KHẢO:
1/ International Rivers Network. Navigation Project Threatens Livelihoods, Ecosystems. Briefing Papers 2, Oct 2002.
2/
IRN-mekong@netvista.net. Lahu & Shan Activists Demand End to Mekong Blastings. Nov 29, 2002.
3/
IRN-mekong@netvista.net. 52 Burmese Organizations Call for End to Mekong Rapids Blasting. Dec 12, 2002
4/ Monash Environment Institute. Evaluation of the EIA for the Proposed Upper Mekong Navigation Improvement Project. Chris Cocklin, Monique Hain. MEI, Monash University, Australia. December 2001.
5/ International Rivers Network. Thai Government Urged to Halt Mekong navigation Project. July 31, 2002.
6/ International Rivers Network. Whose Mekong Is It? Communities tell GMS leaders: Enough broken promises! Listen to the people, not the ADB. Oxafam Mekong Initiative. NGO Forum on Cambodia. Phnom Penh, Nov 3, 2002.
7/ Watershed. Impacts of Mekong Rapids Not Studied. Watershed Vol. 8 No. 2 Nov 2002 – Feb 2003.
8/ MRC News: 200,000 endangered carp bred and released in Mekong. MRC No. 02/ 09 Vientiane, Lao PDR_ April 22, 2009.


Tam giác phân loại châu thổ Galloway 1.

Dòng sông và phát triển lãnh thổ
Nước là yếu tố cần thiết cho sự sống trên hành tinh của chúng ta, đến khi loài người thám hiểm các hành tinh khác, một trong những điều mà các nhà khoa học tìm kiếm đầu tiên là dấu vết của sự hiện diện của nước ở đó. Nước là yếu tố cần thiết cho sự sống trên hành tinh của chúng ta, đến khi loài người thám hiểm các hành tinh khác, một trong những điều mà các nhà khoa học tìm kiếm đầu tiên là dấu vết của sự hiện diện của nước ở đó.

Vì vậy, một vùng lãnh thổ1 có được một dòng sông chảy qua là một điều may mắn cho vùng, cho người dân sinh sống ở nơi đó. Nhận thức này cần được nhấn mạnh để biết quý trọng dòng sông, giữ gìn và tôn tạo để nó có thể đóng góp cho sự phát triển bền vững của vùng lãnh thổ.

Dòng sông tích và chuyển nước với phù sa, nhiều loài thủy sản và mang theo đó một nguồn năng lượng, thế và động năng, quý báu cho sự phát triển. Nếu dòng sông ra biển lớn, nó còn truyền tải vào một lượng năng lượng triều và tạo ra một vùng sinh thái nước lợ, đệm giữa vùng ngọt và vùng mặn.

Năm yếu tố cơ bản của cuộc sống là Nước, Năng lượng, Nông nghiệp, Sức khỏe và Đa dạng sinh học, có quan hệ mật thiết với nhau, đều gắn chặt với dòng sông.

Dọc theo sông và các phụ lưu, kinh rạch của nó còn là địa bàn sinh sống của người dân với nhiều ngành nghề khác nhau nhưng tất cả đều gắn kết với dòng sông.

Hai đề xuất định vị châu thổ sông Mêkông

Chính vì vậy dòng sông luôn là khởi điểm, là yếu tố nền cho một dự án phát triển vùng đồng thời cho nhiều dự án phát triển ngành (nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp, du lịch, …) và phát triển các tiểu vùng trong vùng lãnh thổ đó.

Vấn đề đặt ra là bảo đảm giữa “dự án phát triển vùng” và “những dự án phát triển của vùng” có được sự hài hòa cần thiết để dòng sông không bị hủy hoại, để chính vùng không bị mai một. Nói một cách tích cực hơn, làm gì để dòng sông “sống” với vùng, với con người và phục vụ con người?

Làm sao thực hiện được sự hài hòa này? Đây là câu hỏi mà trong quá trình triển khai Chương trình khoa học Nhà nước “Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long” (1983-1990), Ban chủ nhiệm Chương trình 2 đã tự đặt cho mình ngay từ đầu và xuyên suốt quá trình điều tra và tổng hợp.

Khi đặt tên “Đồng bằng sông Cửu Long, Tài nguyên - Môi trường - Phát triển” cho báo cáo tổng hợp 3, quan điểm của chúng tôi là bộ ba Tài nguyên - Môi trường - Phát triển phải là một thể thống nhất: khai thác tài nguyên để phát triển nhưng để phát triển bền vững, việc khai thác phải phù hợp với quy luật, trước tiên của môi trường tự nhiên, nhớ rằng nước, đất, sinh vật, khí hậu, … là tài nguyên đồng thời cũng là những thành tố cấu tạo nên môi trường.

Trở lại với dòng sông, khai thác nó để phát triển, vậy đâu là những cột mốc cảnh báo giới hạn không được vượt qua?

2. Gắn bó với sự phát triển của đồng bằng sông Cửu Long trong suốt ba mươi năm qua, chứng kiến thực tế khai thác dòng sông để phát triển của vùng đất này, tôi luôn nghĩ về nhiệm vụ phải bảo vệ sông Mêkông và thấy nó cần được xem như một cơ thể sống. Cũng như mọi dòng sông khác trên thế giới, nó có cuộc sống của nó, với nhịp điệu và trao đổi, có quá khứ, hiện tại và tương lai mà chúng ta cần biết, càng rõ bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu.

2.1. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã tìm hiểu châu thổ sông Mêkông hiện nay mang tính chất sông chi phối, triều chi phối hay sóng chi phối và nằm ở vị trí nào trong tam giác phân loại châu thổ Galloway 4 ? (Hình 1). Hiện nay có một số đề xuất định vị khác nhau (Hình 2). Một báo cáo khoa học gần đây nhận định rằng châu thổ sông Mêkông chuyển dần từ dạng triều chi phối sang dạng sóng - triều chi phối 5. Định vị châu thổ sông Mêkông trong tam giác phân loại Galloway không phải là một vấn đề học thuật mang tính hàn lâm, bởi lẽ nó giúp chúng ta hiểu được quá trình hình thành và phát triển của dòng sông, địa mạo của châu thổ, đặc biệt tiểu vùng rìa của nó trong mối tương tác sông - biển (sóng, gió và triều), và dự báo được diễn biến sắp tới của tiểu vùng này.

2.2. Dòng sông sẽ chết nếu không có nước. Vì vậy, những dự án chuyển nước từ lưu vực của dòng sông sang lưu vực của một dòng sông khác cần phải được tính toán, thuyết minh rõ ràng tới một giới hạn nào là chấp nhận được, với những thiệt hại gì cho dòng sông và cho các quốc gia có liên quan, những giới hạn và nghĩa vụ gì tương ứng khi dòng sông chảy qua nhiều quốc gia.

Dự án Kênh đào Seine Bắc, chuyển nước
giữa lưu vực sông Seine (Pháp) và lưu vực
sông Scheldt

Điều này đã được thực hiện khá cụ thể, chi tiết trong dự án Kênh đào Seine Bắc, nối liền sông Seine (qua sông Oise) với sông Sheldt 6, dài 106 km, có 7 âu thuyền và hai đập trữ nước. Mặc dù biết rằng kênh đào sẽ phục vụ vận tải thủy, góp phần giảm bớt khí thải CO2 so với vận tải bộ, nhưng không phải đã hết những băn khoăn về môi trường, về những thay đổi đối với hai sông và vùng đất mà kênh đào sẽ đi qua, được đào sâu 4,5 m, rộng 54 m và lượng đất phải di chuyển là 55 triệu m3. (Hình 3).

Liên hệ đến sông Mêkông, những dự án chuyển nước của sông này, kể cả phần trên thượng lưu, sang những lưu vực khác cần được Nhà nước các quốc gia ở hạ lưu theo dõi sát sao, tính toán kỹ lưỡng hậu quả để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, trong tinh thần hợp tác cùng phát triển.

2.3. Lợi dụng địa hình để khai thác thế năng dọc một dòng sông là việc làm được thực hiện từ nhiều thế kỷ. Nhưng với khả năng tầm nhìn ngày càng được mở rộng, với nhận thức về môi trường ngày càng sâu sắc, việc xây dựng các đập thủy điện được yêu cầu phải có đánh giá tác động môi trường, không chỉ trong phạm vi quốc gia, mà trong phạm vi cả lưu vực nhất là khi liên quan đến một dòng sông quốc tế. Cần nhớ rằng thời gian thích hợp cho việc khai thác ở đầu nguồn chưa hẳn đã phù hợp với thời vụ sản xuất và sinh hoạt ở hạ du ở cách đó hàng ngàn km. Đó là chưa nói tới nguồn lợi về thủy sản có nguy cơ bị cạn kiệt, môi trường có thể bị đảo lộn.

Nước trong lưu vực của một dòng sông cũng giống như máu lưu thông trong hệ thống các mạch máu của cơ thể của con người. Có quyền khai thác nguồn nước phải đi đôi với trách nhiệm đối với toàn bộ lưu vực; quyền lợi một quốc gia phải hài hòa với quyền lợi các quốc gia khác trong lưu vực; nhận cái lợi trước mắt, phải có trách nhiệm với những gì xảy ra trong trung và dài hạn có liên quan trong cả lưu vực. Đó là những ý kiến khách quan, sâu sắc của nhiều nhà khoa học sau khi nghiên cứu các đập thủy điện đã hoàn thành và dự kiến sẽ được xây dựng trên toàn bộ lưu vực sông Mêkông trong thời gian tới đây 7 8. (Hình 4).

Vị trí các đập đã và dự kiến sẽ xây dựng trên
dòng chính sông MêKông

2.4. Mỗi dòng sông, mỗi đoạn sông có một khả năng tự làm sạch khỏi những chất ô nhiễm thải vào nó. Khả năng này tùy thuộc vào nhiều thông số nhưng không phải là vô hạn. Nói một cách khác, mỗi dòng sông có một sức chịu tải về ô nhiễm môi trường. Tôi càng khẳng định như vậy khi chứng kiến nước thải từ không ít nhà máy đông lạnh thủy sản và các thứ nước thải khác từ nhiều khu công nghiệp, nhà máy dọc sông Hậu được thải một cách “vô tư” ra sông này từ An Giang dọc trở xuống mà không qua xử lý bắt buộc theo luật định. Sông Thị Vải, sông Thị Tính ở miền Đông Nam Bộ là những ví dụ dòng sông bị ô nhiễm khác cần báo động 9. (Hình 5).

Nhìn trên ảnh vệ tinh SPOT ngày 10/1/2008, với các khu công nghiệp và nhà máy phía Nhơn Trạch (Đồng Nai) và phía Phú Mỹ dọc trở ra cửa sông Thị Vải (Bà Rịa Vũng Tàu), tôi tự hỏi: (1) Liệu sông Thị Vải, đã bị ô nhiểm đến mức độ hiện nay, sẽ cưu mang như thế nào các khu công nghiệp và các nhà máy này về mặt môi trường?; (2) Liệu phát triển công nghiệp độc chiếm sông Thị Vải có tốt hay không cho sự phát triển về lâu dài và bền vững của Bà Rịa Vũng Tàu, Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh?

2.5. Rừng đầu nguồn bị tàn phá là một mối đe dọa nặng nề khác đối với dòng sông, nhất là ở các vùng nhiệt đới. Mất rừng kéo theo xói mòn, lũ quét và rửa trôi đất mà hậu quả là nâng cao đáy các hồ đập, thay đổi địa mạo của vùng, của lòng sông và chế độ thủy văn.

Liên hệ đến sông Mêkông, nguy cơ này dường như chưa được nhận thức đúng mức. Cái lời trước mắt vẫn được chọn mặc cho nguy cơ triệt tiêu cái lợi lâu dài. Hồ Tonlé Sap là một ví dụ cụ thể. Do nạn phá rừng quanh hồ Tonlé Sap trong những thập niên gần đây, đáy hồ này mỗi năm đang nâng lên từ 10 đến 12 cm, sức chứa của hồ giảm đi nhanh chóng, chức năng trữ và điều tiết của hồ này sẽ thay đổi khác với trước đây là điều sẽ xảy ra nếu không ngăn chặn được tình hình phá rừng hiện nay.

Các KCN và nhà máy tại Nhân Trạch và Phú Mỹ dọc theo sông Thị Vải nhìn từ ảnh vệ tinh SPOT ngày 10.01.2008. (Ô nhiễm sông Thị Vải).

3. Phát triển một vùng lãnh thổ với một dòng sông chảy qua là một công trình hết sức quan trọng, thường mang tính chiến lược đối với đất nước, như đồng bằng sông Cửu Long chẳng hạn. Những công trình của dự án tổng thể cũng như của các dự án ngành hoặc tiểu vùng phải đứng vững và hoạt động tốt trong nhiều thập kỷ nếu không phải là lâu hơn nữa. Như vậy, không thể không đặt dòng sông và vùng lãnh thổ đó vào bối cảnh của biến đổi khí hậu và của mực nước biển dâng đang diễn ra.

Châu thổ sông Mêkông nằm trong lưu vực
và dưới tác động của biến đổi khí hậu và
mực nước biển dâng.

Đối với châu thổ sông Mêkông, trên phần lãnh thổ Việt Nam, trong một báo cáo, chúng tôi đã bước đầu chỉ ra những tác động lên môi trường tự nhiên và lên đời sống kinh tế xã hội, những luồng “di dân sinh thái” có nhiều khả năng xảy ra, cùng với những công việc cần triển khai, trong đó có các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu và biển dâng 10.

Đối với một châu thổ, biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng sẽ tác động lên môi trường tự nhiên của vùng lãnh thổ. Là một thành tố của môi trường, dòng sông bị tác động suốt dọc cơ thể của nó, từ đầu nguồn đến cửa biển hoặc nơi nhập lưu với một dòng sông khác. Do quá trình biển mạnh lên, vị trí của châu thổ sẽ đổi chỗ trong tam giác phân loại Galloway. Mặt khác, quá trình sông yếu đi vì bị “chia nước” hoặc bị các đập ở thượng nguồn ngắt đoạn, vi trí của châu thổ cũng sẽ dịch chuyển. Sự dịch chuyển sẽ là kép, cộng hưởng cả hai tác động, từ phía nguồn và từ phía biển, khi chúng diễn ra cùng một lúc.

Đối với châu thổ sông Mêkông, không chỉ đơn thuần là một sự đổi chỗ: tuy là tiệm tiến nhưng cả châu thổ sẽ bị tác động, cuộc sống của hàng chục triệu người dân ở nơi đây trực tiếp bị đe dọa (Hình 6). Nhìn toàn cầu, Việt Nam phải tham gia giảm thiểu lượng các khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Hành động cụ thể, Việt Nam phải có tiếng nói cần thiết để sông Mêkông được khai thác vì mục đích cùng phát triển, và tổ chức ngay trên địa bàn đồng bằng sông Cửu Long việc ứng phó mà hiệu quả tùy thuộc vào cơ sở khoa học của các giải pháp.

  • Theo GS. TSKH. Nguyễn Ngọc Trân (Tia sáng)

-------

Chú thích:

[1] Từ lãnh thổ dùng trong bài này có thể là một phần trong lưu vực của dòng sông, hoặc cả lưu vực. Trong trường hợp sau, lãnh thổ có thể bao gồm nhiều quốc gia mà dòng sông chảy qua.

2 Ban Chủ nhiệm chương trình gồm có GS.TS. Nguyễn Ngọc Trân (CN), PTs. Hồ Chín (PCN), GS.TS. Võ Tòng Xuân (PCN), PTs.Văn Thanh (TK), Gs. Nguyễn Công Bình, Ks. Trần Đức Khâm, GS.TS. Nguyễn Tấn Lập, GsTs. Phùng Trung Ngân, Ks. Trần An Phong, PTs. Trần Hồng Phú, GsTs. Trần Kim Thạch, Ts. Tô Phúc Tường.

3 “Đồng bằng sông Cửu Long, Tài nguyên - Môi trường - Phát triển”, Báo cáo tổng hợp của Chương trình khoa học kỹ thuật cấp nhà nước “Điều tra cơ bản tổng hợp vùng đồng bằng sông Cửu Long”, (1983-1990). Nguyễn Ngọc Trân chủ biên, Ủy Ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, 1991, Hà Nội.

4 Galloway, W.E., 1975. Process framework for describing the morphologic and stratigraphic evolution of deltaic depositional system. In: Deltas: Models for Exploration, Houston Geological Society, Houston, TX, pp. 87–98.

5 Thi Kim Oanh Ta, Van Lap Nguyen, Masaaki Tateishi, Iwao Kobayashi, Yoshiki Saito and Toshio Nakamura. Sediment facies and Late Holocene progradation of the Mekong River Delta in Bentre Province, southern Viet Nam: an example of evolution from a tide-dominated to a tide- and wave-dominated delta, in Sedimentary Geology, Volume 152, Issues 3-4, 1 October 2002, Pages 313-325

6 Sông Scheldt dài 350 km ở phía Bắc nước Pháp (gọi là sông Escaut), phía Tây nước Bỉ, và ở phía Tây Nam nước Hà Lan (sông Schelde).

7 Michael Richardson, Dams in China Turn the Mekong Into a River of Discord, Rivers know no borders, but dams do, http://yaleglobal.yale.edu/display.article?id=12580

8 Ian G. Baird, The Don Sahong Dam : Potential Impacts on Regional Fish Migrations, Livelihoods and Human Health. POLIS Project on Ecological Governance, University of Victoria, Victoria, B.C., Canada.

9 Tình hình ô nhiểm sông Thị Vãi rất nguy kịch bởi lẽ đoạn nước bị ô nhiễm nặng cứ bị đẩy tới rồi kéo lui theo trièu Biển Đông, hai lần trong ngày quanh vị trí của Nhà máy bột ngọt Vedan. Mô hình toán của Ts. Nguyễn Hữu Nhân diễn đạt hiện tượng này rất rõ. Theo sô liệu của các Sở Tài nguyên và Môi trường hai tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu trong nhiều năm, các chỉ tiêu BOD, COD, DO, … đều vượt quá mức cho phép hàng chục lần, thậm chí còn hơn. Trong chuyến khảo sát tháng 2 năm 2007, điều này được xác nhận. Chỉ tiêu DO đo được là 0.1 trong khi <>

10 Nguyễn Ngọc Trân, Ứng phó với biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng tại đồng bằng sông Cửu Long, Một số nhiệm vụ càn triển khai. Báo cáo tại hội thảo khoa học về biến đổi khí hậu tại đồng bằng sông Cửu Long, tháng 10.2008. Một phiên bản cập nhật đã được trình bày tại Paris theo lời mời của Hội Người Việt Nam tại Pháp, tháng 6.2009.

Trong số hàng trăm loài sinh vật mới được tìm thấy vào năm 2008 trong vùng sông Mekong, kể cả tại Việt Nam, có con thằn lằn đốm Cát Bà, tìm thấy ở miền Bắc Việt Nam (hình 1, tên khoa học Goniurosaurus catbaensis), con rắn vằn hổ, tìm thấy trong vịnh Rạch Giá (hình 2, tên khoa học Cryptelytrops honsonensis), con ếch có nanh (hình 3, tên khoa học Limnonectes megastomias), tìm thấy ở Thái Lan, chuyên ăn thịt chim. (Hình: AP Photo/Thomas Ziegler, Lee Grismer, WWF Greater Mekong)

Thằn lằn đốm báo, ếch có nanh, rắn hổ vằn, nhiều giống vật lạ được khám phá

medium_Mekong New Species_FROG.jpg

Hình 3


BANGKOK (AP) - Một loại thằn lằn có đốm giống như con báo. Một con ếch có nanh chuyên ăn thịt chim. Ðó chỉ là một vài trong số 163 giống sinh vật vừa được tìm thấy chỉ riêng trong một năm qua, trong lưu vực sông Mekong tức Cửu Long ở vùng Ðông Nam Á, kể cả Việt Nam, theo Quỹ Sinh Vật Hoang Dã Thế Giới (World Wildlife Fund - WWF) cho hay tuần qua.

WWF International nói rằng các khoa học gia trong năm 2008 khám phá ra 100 loài thảo mộc, 28 loài cá, 18 loài bò sát, 14 loài lưỡng cư, 2 loài động vật có vú và một loài chim, nghĩa là bình quân mỗi tuần tìm ra được ba loài mới bên cạnh khoảng 1,000 loài được liệt kê từ năm 1997 đến 2007.

“Sau cả ngàn năm lẩn trốn, những loài này sau cùng rồi cũng được nhìn thấy dưới ánh mặt trời và chắc chắn rằng còn nhiều loài khác đang chờ đợi được khám phá,” theo lời Stuart Chapman, giám đốc chương trình vùng Mekong của WWF.

medium_Mekong New Species_Viper.jpg

Hình 2-
Các nhà nghiên cứu của WWF cảnh cáo rằng ảnh hưởng thay đổi khí hậu, săn bắn bừa bãi, ô nhiễm và phá hủy nơi sinh sống thiên nhiên đang tạo nguy cơ tiêu diệt các loài này.

Trong những loài nổi bật trong danh sách lần này là ếch có nanh ở vùng đông Thái Lan, có tên Limnonectes megastomias, chuyên núp dọc theo các con suối để vồ mồi gồm các con chim và côn trùng. Các khoa học gia tin rằng răng nanh của loài ếch này chỉ sử dụng khi chiến đấu với các con ếch đực khác.

medium_Mekong New Species_Gecko.jpg

Hình 1 -
Một khám phá mới lạ nữa là loại thằn lằn có đốm ở Cát Bà, tìm thấy trên đảo Cát Bà ở vùng Bắc Việt Nam. Loài này được đặt tên Goniurossurus catbaensis, có mắt lớn, hai màu cam và nâu, giống như mắt mèo và có đốm trên thân dài màu nâu vàng, như đốm con báo.

Ông Lee Grismer, thuộc trường đại học La Sierra University ở California, nói rằng ông tình cờ tìm thấy một con rắn vằn hổ (tiger-striped pit viper, thân mình có vằn như con cọp), trong khi đang tìm cách bắt một loại thằn lằn đốm khác.

“Chúng tôi đang chăm chú tìm cách bắt loại thằn lằn mới này thì con trai tôi chỉ cho thấy bàn tay tôi đặt trên tảng đá chỉ cách đầu con rắn hổ vài phân,” ông Grismer cho hay. “Chúng tôi bắt được cả con rắn và con thằn lằn, cả hai con vật này đều được xác định là loài mới tìm ra.”

Nơi ông Grismer tìm thấy con rắn này, mang tên khoa học Cryptelytrops honsonensis, là đảo Hòn Sơn trong vịnh Rạch Giá.

Con rắn ông Grismer tìm ra được liệt kê trong danh sách của WWF, vì như tất cả các loài sinh vật mới trên danh sách này, khám phá của ông đã được đăng trên một tạp chí khoa học chuyên môn. Con thằn lằn thứ nhì kia chưa được liệt kê vì chưa được đăng trên tạp chí khoa học chuyên môn.

Hôm Thứ Sáu, WWF cũng loan báo việc kiếm ra ba khu vực sinh sống của loài chim mang tên Crocias langbianis, tìm thấy ở khu Liangbian. Loài chim này đầu có lông màu xám, bụng màu trắng. Các loài khác được tìm thấy có con dơi mũi ống mang tên Murina harpiolides ở vùng Nam Việt Nam và loài chim hét cao cẳng (Nonggang babbler) ở vùng biên giới Việt-Hoa và thích đi hơn là bay.